Rốt ráo lại, vật chất từ nguyên tử cho đến vũ trụ được làm bằng vật liệu “Sóng”. Khi Sóng trở về Nước hay Sắc trở về Không thì nguyên tử và vũ trụ cũng sụp đổ trở về Không và khi đó thế gian Mê tan hoại. Khám phá ra vụ nổ Big Bang thành lập vũ trụ, các nhà Bác Học tuy xác minh được bằng những dụng cụ khoa học xem có vẻ như Chân Lý, tuy rằng có những thông số kỳ lạ khó hiểu. Thật ra những khám phá này chỉ đúng theo Nghiệp Thức và con mắt hữu tướng của từng loại chúng sanh mà thôi. Thí dụ đơn giản nhất cũng như Gỗ là thực phẩm của loài mối, nhưng với loài Người thì chỉ dùng làm dụng cụ chứ không ăn được.Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật nói: “Không tức thị Sắc”. Cái Không hiện ra Sắc tức thì trong một sát na, không phải đợi nhiều tỷ năm từ cái Dị Điểm Big Bang mới hiện ra Sắc Tướng thế gian. Cái Không ở đâu thì hiện ra Sắc ở đó, không cần phải tập trung hết năng lượng vi tế vô cùng lớn trong khắp Hư Không dồn nén vào một Dị Điểm Big Bang vô cùng nhỏ rồi mới nổ và bành trướng ra Hư Không để thành các hành tinh sơn hà đại địa. Cũng giống như mặt biển đang lặng yên, một vẫn thạch (Asteroid) trong không gian rơi xuống ở trung tâm tạo ra một “Động Năng” lớn làm nổi sóng lên khắp đại dương. Động năng này là một năng lượng, ở đây là một “Động Lượng” truyền động lan ra qua nước để nước ở nơi đó hiện ra cái tướng sóng:“Nước tức là Sóng”.Cũng như một niệm Vô Minh đầu tiên khởi lên làm cho niệm niệm duyên khởi ra trùng trùng, niệm đi tới đâu thì Tâm hiện ra Tướng đến đó, sự truyền động hay truyền năng lượng đi tới đâu thì nước ở đó nổi lên thành sóng, không phải nước từ trung tâm lan ra, chỉ có cái năng lượng lan ra với cái tướng của sóng mượn từ nước tại chỗ đó. Sóng nổi lên khắp đại dương là do  Nước ở trùm khắp đại dương đồng hiện ra Sóng,“Nước và Sóng bất tức bất ly”.Khi sự truyền động ngưng lại trở về sự lặng yên thì Sóng biến mất, chỉ còn lại duy nhất Nước:“Sóng tức là Nước”.Khi niệm niệm duyên khởi từ một niệm Vô Minh đầu tiên lắng động trở về “Vô Niệm”,thì Tâm Tâm trở về Tâm Không thành Phi Tâm, TÁNH  liền hiện bày. TÁNH này chính là cái Hư Không Rỗng Rang-Emptiness mà các nhà Bác Học đã bỏ quên không để ý đến.

        Ở đây rõ ràng nhận xét thấy các nhà Bác Học của thế gian đi về cái ngọn để tìm Chân Lý nên bị điên đảo và mù tịt. Hẳn các nhà Bác Học cũng biết đến cái Vô Thường và sinh diệt trong một nguyên tử như thế nào khi có những hạt năng lượng trong nhân vô cùng nhỏ rất khó quan sát, chúng va chạm nhau thường  xuyên bị hủy diệt và sinh ra những hạt khác cho nên đời sống của chúng vô cùng ngắn ngủi chỉ có khoảng vài phần tỷ giây, trong khi các nhà Bác Học lại mò mẫm ra cái ngọn của Chân Lý, giống như vào biển đếm cát thì biết khi nào mới xong việc. Trong giấc chiêm bao chỉ cần có 1 sát na thôi là cả vũ trụ Càn Khôn đại địa, hằng sa tinh tú hiện ra đầy ắp cả Hư Không và cũng chỉ trong 1 sát na khi thức dậy thì cái vũ trụ vô biên đó sụp đổ tan hoại hoàn toàn không để lại một dấu vết. Không cần phải đợi từ khi có vụ nổ Big Bang đến 4-5 tỷ năm sau mới có Quả Địa Cầu và đợi thêm 20 tỷ năm nữa vũ trụ này mới tan hoại trở về Không.  

       Tóm lại, sự khám phá ra vụ nổ Big Bang sinh ra vũ trụ của các nhà Bác Học thế gian chẳng có giá trị gì đối với Chư Phật, Chư Tổ và Thiền Sư. Nhưng  tạm thời trong thế giới Hữu Vi lấy đó làm phương tiện để phá một phần nào sự mê muội của các Đức Tin Thần Quyền cho rằng Thượng Đế tạo ra vũ trụ vì sự khám phá ra vụ nổ Big Bang là một khoa học. Big Bang giống như một niệm Vô Minh dấy động giữa Chân Không mà ứng cơ cái Diệu Hữu là vũ trụ, là hai mặt Thể và Dụng, Tánh và Tâm, cánh tay Mặt và cánh tay Trái của Bát Nhã Chân Như. Cũng như một hòn đá rơi xuống Biển làm cho Mặt Biển nổi Sóng : Mặt Biển yên lặng là phần Thể của NƯỚC còn Sóng là phần Dụng của NƯỚC. Như vậy, từ một điểm Vô Minh hay Nghiệp Thức làm cho  Chân Không (Vô, Vô Tướng, Vô Tác) dấy động sinh ra Diệu Hữu (Hữu, Hữu Tướng, Hữu Tác) . Mặt Biển đang yên lặng bị gió bão nổi lên thành Sóng. Ba ngàn thế giới, hay Càn Khôn vũ trụ, sum la vạn tượng xuất hiện là cái Diệu Hữu. Vì có TÁC nên có TƯỚNG vật chất và cái HỮU xuất hiện tức là Đại Thiên thế giới hay Càn Khôn vũ trụ. Từ  Diệu Hữu (Hữu , Hữu Tướng , HữuTác) trở về lại cái gốc Bản Thể Chân Không thì ngược lại: (Vô,Vô Tướng, Vô Tác) đúng như Tổ Long Thọ đã khai thị: Thành Niết Bàn ( tức Chân Không) có ba cửa : (Vô, Vô Tướng, Vô Tác). Vô Tác: Sóng yên lặng trở về Nước. Vô Tác: nguyên tử vật chất tan rã trở về Không thì cả vũ trụ sụp đổ trở về Không.    

“Tác hữu trần sa hữu

  Vi không nhất thiết không”.

 (Hạt Bụi nầy có thì Vũ Trụ nầy có

  Hạt Bụi nầy không, thì cả Vũ Trụ nầy cũng không ). 

       Nguyên tử Hydrogen nầy “Tác” nên “Có”, thì vũ trụ này “Có”. Nguyên tử Hydrogen này “Vô Tác” nên “Không” thì cả vũ trụ này cũng tan hoại, sụp đổ trở về “Không”. Vậy Vô Tác là trở về Chân Không, trở về Niết Bàn, trở về Bát Nhã, Như Lai Tàng. Ba cái cửa Vô, Vô Tướng, Vô Tác để nhập vào  “Thành Niết Bàn”, ngộ nhập Bát Nhã, ngộ nhập Như Lai Tàng của Tổ Long Thọ - tuy 3 mà là 1, tuy 1 nhưng lại là 3. Vì vào 1 cửa cũng như đã vào 3 cửa ; chỉ cần 1 cửa ( bất luận cửa nào) là đã nhập “Thành Niết Bàn”.   

   *Cửa Vô            

                                       VÔ

Vô tợ Hư Vô thể bổn Không

Tướng đồng Vô Tướng cõi Rỗng ,Trong.

Mịt mù thế giới màn sương ảo

Lấp lánh Càn Khôn ,bọt nước sông

Trăng chiếu trăm sông, ngàn ánh Rõ

Nhựt soi vạn núi, Rực trời hồng

Gương trong, sắc tướng như bào huyễn

Soi chiếu muôn chiều, vạn pháp KHÔNG

 *Cửa Vô Tướng   

                                 VÔ TƯỚNG

Đại địa quần sanh, Thực Tướng : Vô,

Bổn mê sắc tướng bóng ngũ hồ

Du du sinh tử, lai thiên địa

Ám muội Vô Minh, lạc tam đồ

Biển mộng chập chùng, say sắc sóng

Quê Nhà tĩnh tịch, ánh Tỳ Lô

Trong gương nhìn ảnh soi Chân Tướng

Sạch bụi phong trần, thẳng cửa VÔ. 

*Cửa Vô Tác 

                                   VÔ TÁC

Tuyệt gốc Vô-Vi liễu Tánh Chân

Hữu-Vi vọng động lạc thức thần

Trùng trùng duyên khởi hà sa giới

Kiếp kiếp trầm luân vạn lý trần

Vô-Niệm, Vô-Tâm, vô sở trụ

Vô-Hành, Vô-Pháp diệc Vô-Nhân

Quán Không, Tự Tánh phi nhất vật

Phi Phật, phi Phàm, thị PHÁP THÂN.

 (Ngộ Thâm). 

       Chỉ cần Vô Tác  là thế giới Mê đang dậy Sóng hiện Tướng thế gian sẽ tỉnh thức trở về Biển Tánh Chân Không, Niết Bàn vắng lặng, Bát Nhã thanh tịnh. Cái  (Vô, Vô Tướng, Vô Tác) và cái ( Hữu, Hữu Tướng, Hữu Tác) là hai mặt THỂ và DỤNG,  là Chân Không và Diệu Hữu, như hai cánh tay Mặt và Trái của Một cái Thân duy nhất là “MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA”. Tuy MA HA BÁT NHÃ hay TỰ TÁNH thì  “tự thanh tịnh” (Vô, Vô Tướng, Vô Tác), nhưng lại “hay sanh muôn Pháp” (Hữu, Hữu Tướng, Hữu Tác). Mê và Ngộ là Một, cũng như Sóng và Nước là Một. Phật và Chúng Sanh là Một chỉ khác là ở Mê hay Ngộ:  Mê thì có thế giới của (Hữu, Hữu Tướng, Hữu Tác). Ngộ thì hòa nhập cái (Vô, Vô Tướng, Vô Tác) trở về cái Chân Không vi diệu, cái (Hư Không Rỗng Rang - Emptiness), cái “Rỗng Thênh Không Thánh”: không có một vật, không phàm, không thánh, không chúng sanh thọ giả, không tăng không giảm, không sinh không diệt và trùm khắp…là Kim Chỉ Nam cho hành giả đi tìm Chân Lý Giải Thoát.  

       Tóm lại, Bức Tường Mẹ Rỗng Rang- Emptiness mà thế gian bỏ quên không để ý tới lại là cái Gốc của Chân Lý, là Chân Không, là Hư Không, là cái Không, là Cánh Cửa Giải Thoát của Chư Phật, Chư Tổ và Thiền Sư. 

       *Đó là cánh cửa TỔ mà tất cả thiền sinh phải vượt qua để vào căn nhà Bát Nhã . Là cửa “VÔ”, cửa “VÔ VI”, cửa Không , cửa không cửa, hay cái cửa Ca Diếp thể  hiện cái Ánh Rõ của Chân Tâm Gốc Tánh lẫn lộn trong cái thấy của nhãn thức phàm  phu ,chỉ có Tổ Ca Diếp với Tâm không tương ưng rốt ráo mới nhận ra và ngộ nhập cái của Bát Nhã với bầu trời trong “Rỗng  Thênh Không Thánh” mà Tổ ĐẠT MA đã khai thị cho Vua Lương Võ Đế. Cái ẩn hiện nơi cái thấy của phàm phu như cò trắng trong truyết , như nước với sữa chỉ có con ngỗng chúa mới lược ra được .Cái Ánh Rõ Bát Nhã ẩn hiện trên Cành Hoa Sen ,trên giọt nước ,ở tàng cây ,ở đám mây ,ngọn núi và trùm khắp cả Hư Không …nhưng với nhãn thức phàm phu với Tâm Mê đầy vọng tưởng nghiệp chướng thì không thể nào nhận ra được .   

“Bất ly đương xứ thường trạm nhiên

  Mịch tức tri quân bất khả kiến”.

 (Không rời trước mắt vẫn thường nhiên

  Tìm kiếm đã hay không thấy được).

       Kẻ phàm phu không sao nhận ra được,vì phải có cái Tâm tương ưng cùng tần số là Không  tức Tâm Không. Đi suốt cả đường Tâm đến tận gốc tận đầu nguồn Tâm với Tâm Không rốt ráo, thấy Tánh thành Phật, ngộ nhập Bát Nhã.

       Đây là Chánh Pháp Nhãn-Tạng ,Niết Bàn Diệu Tâm ,Vi Diệu Pháp Môn, Thật Tướng Vô Tướng ,Giáo ngoại biệt truyền ,bất lập văn tự” mà Đức Phật Thích Ca đã truyền cho Tổ thứ nhất là Ca Diếp . Đây cũng là “Giáo ngoại biệt truyền ,bất lập văn tự,trực chỉ nhân Tâm kiến Tánh thành Phật” mà Tổ thứ 28 là tổ Bồ Đề Đạt Ma đã du nhập vào Trung Quốc là Sơ Tổ của Thiền Tông Trung Hoa cho đến Lục Tổ Huệ Năng ,Thiền Sư Huyền Giác và vô số Thiền Sư ngoại hạng sau nầy … 

       Tổ Đạt Ma đã thay mặt Phật đã chỉ rõ ràng tức Tâm là Phật ,trực chỉ nhân Tâm kiến Tánh thành Phật :  

“Ngã bổn cầu Tâm bất cầu Phật

  Liễu tri tam giới không vô vật

  Nhược dục cầu Phật, đản cầu Tâm

  Chỉ giá Tâm Tâm ,Tâm thị Phật”.

 (Ta thà cầu Tâm chẳng cầu Phật

  Rõ ra ba cõi không một vật

  Nếu muốn cầu Phật thà cầu Tâm

  Chỉ Tâm Tâm ,Tâm ấy tức Phật). 

       Tổ còn chỉ rõ chính cái Tâm Gốc thanh tịnh là cái cửa “VÔ” vi diệu nhảy vào đất Như Lai ngộ nhập Bát Nhã. Đó cũng là cái Tâm “Vô Niệm” mà Lục Tổ Huệ Năng đã nhận ra Tự Tánh .Giống như mặt nước yên lặng như gương ,không một đợt sóng ,hoặc bụi mờ che khuất soi thấu cả bầu trời trong vô tận.  

       Tổ Đạt Ma chỉ rõ:  

“Đạt Đạo do Tâm bổn

  Tâm tịnh thời hoàn đa

  Như liên hoa xuất thủy

  Đốn giác đạo nguyên hòa

  Thường cư tịch diệt tướng

  Bát Nhã chứng nan qua

  Độc  siêu tam giới ngoại

  Cách bất luyến Ta Bà”.

       Đạt được ĐẠO là ở cái TÂM GỐC. Cái Tâm Gốc cũng là cái Tâm Không, hoàn toàn thanh tịnh. Đạt được Tâm Không giống như mặt nước yên lặng hay tấm gương trong không một chất bụi ám che mờ sẽ có lợi ích vô cùng soi thấu được bầu trời trong vô tận, hay soi thấu được Phật Tánh, làm cho Phật Tánh hiển bày ngay nơi Thân Tứ Đại nầy. Giống như Hoa Sen vươn khỏi mặt nước hiện bày trong Hư Không. Đốn ngộ cái đạo lý siêu việt, thoát vòng sinh tử và thường sống trong Cái Không tịch diệt vô tướng. Đó cũng là chứng ngộ Bát Nhã,là căn nhà Niết Bàn vô sanh, vượt qua khỏi Tam giới, không còn luyến tiếc hoặc ràng buộc bởi cõi Ta Bà đầy ngũ trược và phiền não.   

       Đối với chúng sanh còn đang mê muội Vô Minh, càng cầu xin cúng tế, lễ bái,van xin trong  đường mê thì càng lún sâu vào bể khổ luân hồi. Bởi vì chúng sanh với cái Tâm (Tham, Sân ,Si) làm cho lửa bát thức: (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân ,Ý , Mạt Na, A-Lại-Da) phun trào, lại gặp bão táp lục trần : (Sắc, Thinh ,Hương,Vị ,Xúc , Pháp)  ập đến cuồng quay trong lốc xoáy điên đảo. Ma ngũ ấm : (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) quyến rũ mê lầm, Thân Tứ Đại :(Đất, Nước, Gió, Lửa) luôn luôn nhiễu loạn quấy phá . Dây ái xích xiềng trói chặt ,tham dục cuốn hút  đắm chìm trong biển sâu đen tối .Nội công ngoại kích làm cho Thân Tâm vẩn đục ,trí tuệ lu mờ. Giữa trận đồ bát quái với vòng vây Vô Minh dầy đặc, phải rơi vào biển khổ sanh tử trầm luân không lối thoát. Không có lối thoát bởi vì Nghiệp chồng lên Nghiệp, Nghiệp cũ chưa thọ báo xong, lại tạo thêm Nghiệp mới, nợ cũ chưa trả xong lại vay thêm nợ mới, biết bao giờ mới trả cho xong. Trong vô số kiếp làm “khách phong trần” ngao du lãng tử khắp 6 ngã luân hồi : khi là loài Người, khi là loài Trời rồi lại rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh…mỗi ngày lại càng đi xa, quên mất  “Căn Nhà Xưa”, con mắt Huệ bị nghiệp chướng của 6 ngã luân hồi trong vô số kiếp viễn du làm cho bị mù, chỉ nhìn đời, nhìn đạo bằng con mắt của phàm phu đầy tham dục và mê muội. Giống như (con thiêu thân) thấy ánh lửa dục vọng, danh lợi của thế gian tưởng là hào quang thật, nghe nói phép lạ thần quyền vội tin ngay tưởng là thiên đường thật, nhìn thấy hào nhoáng bên ngoài của ngoại đạo tưởng là ánh sáng thật vội xông vào, không ngờ bị thiêu đốt trong lửa Vô Minh không lối thoát.   

“Vi vi lãng đãng phong trần khách,

  Nhật viễn gia hương vạn lý trình ”.

 (Lang thang làm khách phong trần mãi

  Ngày một thêm xa chốn Quê Nhà). 

       Phật, Tổ và Thiền Sư ra đời để cứu vớt chúng sinh ra khỏi biển khổ

mê lầm đến bờ giác yên vui nơi Niết Bàn : thường, lạc, ngã ,tịnh .Các Ngài đã trao cho chúng ta tấm bản đồ chỉ đường để hồi hương- trở về Căn Nhà Xưa : căn nhà “MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA”

       Tấm bản đồ “Chứng Đạo Ca” với cánh cửa “VÔ VI” và căn nhà “BÁT NHÔ của Thiền Sư Huyền Giác không khác với tấm bản đồ “Trực chỉ nhân Tâm kiến Tánh thành Phật” của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, cũng không khác với tấm bản đồ “VÔ NIỆM và Bổn Lai Vô Nhất Vật” của Lục Tổ Huệ Năng. Nó cũng không khác với tấm bản đồ “Niêm Hoa Vi Tiếu” chỉ cái Rõ - cái Ánh Bát Nhã của Đức Phật Thích Ca trao cho Tổ Ca Diếp ở Pháp hội Linh Sơn .

 Vậy chúng sanh nào đã tỉnh cơn Mê, có bản lĩnh ,có trí tuệ thì đây là lời nhắc nhở của Đức Phật : “Các ngươi hãy tự đốt đuốc lên mà đi ,đi với Chánh Pháp”. Chánh Pháp ở đây là tấm bản đồ mà Chư Phật ,Tổ ,Thiền Sư trao cho.

        Các Ngài đã chỉ cho chúng ta biết thế gian nầy là MỘNG ,do TÂM mê ,điên đảo nên tưởng là thật .Cả 6 căn đều điên đảo chấp dính vào 6 trần và bị trói buộc vào sinh tử luân hồi :  

“Mộng lý minh minh hữu lục thú

  Giác hậu không không vô đại thiên”.

                              (Thiền Sư  Huyền Giác). 

       Vậy khách bể dâu trong 6 cõi ,ai là người tỉnh Mộng ,biết được Mộng,  đã chán với cảnh luân hồi vô số kiếp ,hãy lên đường ,độc hành độc bộ với tấm bản đồ “MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA”.     

“Thường độc hành thường độc bộ

  Đạt giả đồng du Niết Bàn lộ”.

       Hãy vượt cho đến đỉnh Tuyết Sơn ,nơi có Pháp Giới Chư Phật mà Phật, Tổ và Thiền Sư từng nếm vị “ĐỀ HỒ” chứng Niết Bàn Diệu Tâm: 

“Tuyết Sơn Phì Nhị cánh vô tạp

  Thuần xuất Đề Hồ ngã thường nạp”.  

       Đường lên đỉnh Tuyết Sơn phải  đi bằng cả Thân Tâm với 6 căn hổ dụng đồng loạt, mút cả đường TÂM ,vượt khỏi “đầu sào trăm trượng” của Thiền Sư Cảnh Sầm , cho đến tận đầu nguồn MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA cũng là cái Rõ hiển bày nơi Cành Hoa Sen ở Pháp hội Linh Sơn mà Tổ Ca Diếp  đã nhận ra và cũng trong sát na đó nhảy thẳng vào ĐẤT NHƯ LAI  ngộ nhập BÁT NHÃ. 

 “Đường đi lên có Thích Ca Văn Phật

  Pháp hội Linh Sơn mở Đạo mầu 

  Một cánh hoa trao ngàn thuở ngát

  Lời Kinh vô tự vút từng câu

  Đường đi lên ôi tuyệt vời minh triết

  Có cái không bàn nghĩ được đâu

  Ngã ư Chánh Giác vô sở đắc

  Có cái Tâm nầy vạn pháp thâu

  Đường lên hỡi khách bể dâu

  Ngắn bằng một niệm dài đâu chớp lòe

  Ai ai những khách đi về

  Đường lên nẻo Giác đường về nẻo Tâm”.(Trúc Thiên)

       TÂM nầy là TÂM KHÔNG ,TÂM ở huốt tận đầu nguồn là phi TÂM mà Tổ Thương Na Hòa Tu (Sanakavasa ) đã truyền chánh pháp nhãn tạng cho Tổ thứ 4 là Ưu Ba Cúc Đa (Upagupta) :   

“Phi pháp diệc phi Tâm

  Vô Tâm diệc vô Pháp

  Thuyết thị Tâm Pháp thời

  Thị Pháp phi Tâm Pháp”.  

       TÂM nầy cũng chính là cửa “VÔ” của Triệu Châu, cửa “Vô Môn Quan” của HUỆ KHAI ,cửa “VÔ VI” của Huyền Giác hay cái cửa Ca Diếp với cái RÕ BÁT  NHàẩn hiện nơi Cành Hoa Sen, nơi tàng cây ,đám mây, sông núi hay cả vạn pháp và Hư Không .

        Tâm nầy là Tâm  “ BA LA MẬT ĐA” ở  bờ bên kia và ngay đó ngộ nhập “MA HA BÁT NHÔ thấy Tánh thành Phật. 

“BÁT NHàthanh tịnh hải

  Lý mật nghĩa u thâm

  BA LA ĐÁO BỈ NGẠN

  Hướng đạo kỳ do Tâm”. (Bồ Đề Đạt Ma).  

        Rõ ràng Niết Bàn Diệu Tâm hay “MA HA BÁT NHÃ LỰC” của Thiền Sư Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca đồng thuyền, đồng bộ ,đồng hành, đồng điểm ,đồng tâm với Chư Phật ,Chư Tổ và Thiền Sư .Các Ngài sánh vai cùng đi ,nhìn cùng một con mắt ,nói cùng một giọng lưỡi :   

“Tông diệc thông, thuyết diệc thông

  Định huệ viên minh bất trệ không

  Phi đản Ngã kim độc đạt liễu

  Hằng sa Chư Phật thể giai đồng”.

                             (Thiền Sư Huyền Giác). 

(Tông cũng thông ,thuyết cũng thông

Định huệ sáng tròn chẳng trệ không

 Nào phải mình ta riêng đạt đấy

 Hằng sa Chư Phật thể giai đồng).          

       Điều lạ lùng cần suy gẫm tham cứu cho tới tận đầu nguồn ,tận gốc rễ dù cho phải mất suốt 5 năm ,10 năm ,20 năm ,30 năm hay trọn một kiếp người cũng phải cho xong .Đó là việc phải tham cứu PHÁ VỠ  cái  “HƯ KHÔNG Rỗng Rang” vô biên đang trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới là gì? Cái Hư Không  nầy có điều gì bí mật mà Chư Phật, Chư Tổ và Thiền Sư đều chú ý tới một cách trân trọng :    

       * Tổ Sư  thứ 7  BÀ TU MẬT (Vasumitra)  khai thị :

“Tâm đồng HƯ KHÔNG giới

  Thị đẳng HƯ KHÔNG pháp

  Chứng đắc HƯ KHÔNG  thời

  Vô thị vô phi pháp”.     

       * Thiền Sư Chân Ngôn cũng nhắc tới nó :

“Diệu bản HƯ VÔ nhật nhật khoa

  Hòa phong xuy khởi biến Ta Bà

  Nhân nhân tận thức Vô Vi lạc

  Nhược đắc Vô Vi thủy thị gia”.

 (Hư Không lẽ  ấy rất sâu xa

  Thổi dịu nơi nơi ngọn gió hòa

  Vô Vi tận biết ,người an lạc

 Đạt đến Vô Vi mới là nhà).

       * Thiền Sư Lương Giới Động Sơn - Khai Tổ Tông Tào Động, khi sắp tịch cũng khai thị cho các Chư Tăng về cái “Không” vi diệu này, là con đường tắt nhất để tìm Đạo: 

 “Học giả hằng sa vô nhất Ngộ
   Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ
   Dục đắc vong hình dẫn tung tích
   Nỗ lực ân cần “Không” lý bộ”.

  (Kẻ học hằng sa, ngộ mấy người
   Lỗi tại tầm y trên đầu lưỡi
   Muốn được quên thân bặt dấu vết
   Nỗ lực trong “Không” bước ấy ngươi).

        * Bàng Long Uẩn thì luôn luôn sống với cái Không nầy .Dù đi đứng nằm ngồi cũng ở trong cái Không, cái Không rốt sáo ngự trong nhà ông, cái Không là kho tàng chân thật, cái Không cũng là chỗ ngồi của Chư Phật .

       * Triệu Châu thì  nói xa nói gần về nó với cái  cửa “VÔ”. 

       * Đức Phật thì chỉ thẳng về nó qua cái Rõ  ẩn hiện nơi Cành Hoa Sen ở Pháp hội Linh Sơn cho Tổ CA DIẾP cũng gọi là cánh cửa Ca Diếp .

       *Thiền Sư Huyền Giác cũng chỉ thẳng qua cửa “VÔ VI”.

       *Tổ Thiền Tông thứ 14 Long Thọ cũng diễn đạt nó qua thành Niết Bàn: “Niết Bàn thành hữu tam môn sở vị :Vô,Vô Tướng ,Vô Tác” (Thành Niết Bàn có 3 cửa : cửa Vô ,cửa Vô Tướng ,cửa Vô Tác). Hư Không vẫn sờ sờ trước mặt ,vô biên trùm khắp ,nhưng lấy chẳng được, bỏ chẳng cũng được ,không sinh không diệt ,không tăng cũng không giảm,  nhìn thì chẳng thấy ,chỉ thấy Rỗng không :    

“Bất ly đương xứ thường trạm nhiên

  Mịch tức tri quân bất khả kiến”.   

        Nó rỗng mà linh ,không mà diệu ,ứng cơ sinh ra vạn pháp: “Không tức thị Sắc” như Thiền Sư Chân Nguyên khai thị :     

“Một điểm Hư Vô thể  bổn không

  Vạn ban tạo hóa giá cơ đồng

  Bao la thế giới CÀN KHÔN ngoại

  Trạm tịch hàn quang sát hải trung”.  

       Nó là  “Thánh Đế  Đệ Nhất Nghĩa” mà Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã khai thị cho Vua Lương Võ Đế : “ Rỗng Thênh Không Thánh”. Rốt  ráo lại ,Hư Không là cái đích cuối cùng mà tấm bản đồ “MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA” của Phật,Tổ ,Thiền Sư đã trao cho những ai thực sự đi tìm Chân Lý ,tự giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.  

“Đạt Ma sừng sững giữa Hư Không

  Đứng giữa Trời trong vẫn u huyền”.     

        Thật khó khó thay ! Đúng là “10 tạ dầu mè trên cây vuốt”. Nhưng có một điều lạ lùng là Phật ,Tổ và Thiền Sư vừa trao tấm bản đồ “MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT DA” lại vừa hé mở  cánh cửa “MỘNG” như là điều thực chứng những lời khai thị của các Ngài !

         LẠ LÙNG thay giấc MỘNG BAN ĐÊM khi thức dậy và giấc MỘNG BAN NGÀY  khi đại ngộ sao mà giống nhau như MỘT ! Trong giấc Mộng Ban Đêm, chúng sanh Mộng đang MÊ bởi con mắt Nghiệp Mộng , không thể thấy cái Thân Thật nằm trên giường ,chỉ thấy toàn là Hư Không Rỗng Rang vô biên . Chỉ khi thức dậy mới biết cái thân trên giường là HƯ KHÔNG trong Mộng.   

       Đối chiếu lại, cái Thế Gian Thực Tại có phải là MỘNG BAN NGÀY hay không ? Nếu đây cũng là Mộng thì rõ ràng cái HƯ KHÔNG RỖNG RANG vô biên nầy cũng chính là cái THÂN THẬT của mọi chúng sanh và cả Càn Khôn vũ trụ vạn vật ….là PHÁP THÂN  ,là BÁT NHÃ ,là NHƯ LAI , là NIẾT BÀN…. mà biết bao lời khai thị của Phật ,Tổ ,Thiền Sư đã nhắc nhở chỉ đường cho chúng sanh MÊ đang sống trong thế gian Mộng, với con mắt Nghiệp Mộng có tấm bản đồ chính xác để tự giải thoát ra khỏi cơn Mộng và 6 ngã luân hồi. 

       Thật vậy ,Phật ,Tổ và Thiền Sư đã nhắc nhở chúng sanh nhiều lần : Cái thế gian hữu tướng nầy thực sự là Mộng , không phải là thực, đừng bám víu vào nó để bị luân hồi !         

       *Trong Kinh Kim Cang,Đức Phật chỉ rõ:  

“Nhất thiết Hữu Vi pháp

  Như Mộng huyễn bào ảnh

  Như lộ diệc như điện

  Ưng tác như thị quán”.

       (Tất cả pháp Hữu Vi của thế gian đều là mộng, ảo, bọt,bóng,giống như sương mai điện chớp hãy nghĩ chúng như chiêm bao).   

       *Thiền Sư Huyền Giác nói :  

“Mộng lý minh minh hữu lục thú

  Giác hậu không không vô đại thiên”.

 (Còn mộng thì còn 6 ngã luân hồi  

  Giác ngộ rồi thì 3 ngàn thế giới cũng không có).     

       *Trong Kinh Lăng Già, Bồ Tát Đại Huệ cũng cho biết :  

“Viễn ly đoạn thường

  Thế gian hằng như Mộng

  Tri bất đắc hữu vô

  Nhi hưng đại bi Tâm”.     

*BỒ ĐỀ ĐẠT MA cũng khai thị:  

“Thân tận Vô Minh tận

  Thọ báo khước lai kỳ

  Trí thân như huyễn hóa

  Cấp cấp ngộ “Vô Vi”

 (Không có thân thì Vô Minh tận diệt,

  Không có thân thì thọ báo ,nghiệp chướng cũng không đến được

  Ngươi hãy biết rằng ,thân ngươi là mộng ,là huyễn ảo

  hãy mau ngộ cái “VÔ VI”tức là cái không vi diệu nầy).    

        Như vậy, Chư Phật, Tổ và Thiền Sư đã phát lộ cái “bí mật” chỉ rõ cho chúng sanh biết cuộc đời của tất cả chúng sanh trong 6 cõi đều là Mộng cả. Tất cả Pháp HữuVi đều là Mộng đều là Huyễn không có thật. Bởi vì Tâm Mê mà hiển ra sắc tướng đủ hình thù và các cõi: từ tam giới lục đạo luân hồi tam thiên đại thiên. Tất cả là từ cái Không, từ cái Bát Nhã Chân Như mà hiển ra Sắc Tướng; và từ Sắc Tướng lại nhập về Không, về Bát Nhã Chân Như: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”.  Chỉ cần một niệm Vô Minh khởi động thì niệm niệm duyên khởi trùng trùng, Bản Thể Chân Như liền ẩn khuất nơi Hiện Tượng, giống như Nước ẩn nơi Sóng. Tâm Mê hiện tướng Thế Gian sinh diệt với cái Ngũ Uẩn ( Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) và Lục Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị , Xúc, Pháp) trôi lăn vào sáu cõi Luân Hồi. Trong vòng Luân Hồi vô số kiếp lại tạo ra nhiều Nghiệp Chướng càng ngày càng sâu dầy. Hành trang Nghiệp Chướng càng nặng thì càng khó giải thoát càng chịu nhiều phiền não nặng nề trong cái Đại Bệnh Sinh Tử. Tuy nhiên chỉ cần một sát na khi Chứng Ngộ thì bao nhiêu Nghiệp Chướng đều rũ sạch như Ngài Huyền Giác đã chỉ: 

“Đàn chỉ viên thành bát vạn môn

  Sát na diệt khước tam kỳ kiếp”.

 (Búng tay tám vạn Pháp Môn thành

  Nháy mắt rũ xong ba kỳ kiếp).  

       Lúc đó thì: “Tùy duyên tiêu Nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo Xiêm” và Thế Giới Mê tan hoại: Sắc tức thị Không.      

SẮC TỨC THỊ  KHÔNG 

 

Sắc Không, gốc thị “Như Không”

Vô Minh một niệm bập bồng nổi trôi

Mộng du sáu ngã luân hồi

Hành trang nghiệp chướng đắp bồi Mê Cung

Mịt mù vô thủy vô chung

Sắc Không bào ảnh trùng trùng khởi duyên

Lục trần, bể khổ dong thuyền

Tử sinh , sinh tử đảo điên ngục tù

 

Ngũ hồ dừng bước viễn du

Buông chèo , soi nước hồ thu an lành

Sóng yên , gió lặng , Trời thanh

Ngàn sao, hiển lộ ngọn ngành tươi trong

Sắc hòa mặt nước mênh mông

Không hoà theo Sắc vào lòng biển khơi

Sắc Không tỉnh thức Mộng Đời

Bọt tan theo nước sáng ngời gương trong

Sắc Không Diệu Hữu Chân Không

Không Không, Sắc Sắc, Gương Lòng soi “Không”.

        (Ngộ Thâm).      

        Một khi đã đạt được Lý “Sắc Không” cả Thân Tâm đều tương ưng với cái Không vi diệu này, thì xem như xong hết mọi việc Thế Gian, an nhiên

 tự tại, thảnh thơi việc đời không còn phiền não, tùy duyên mà cứu độ chúng sanh với lòng Từ Bi và Trí Tuệ Bát Nhã. 

 “Niên thiếu hà tằng liễu Sắc Không

   Nhất Xuân Tâm tại bách hoa trung

   Như kim khám phá Ðông hoàng diện

   Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng”.

                                        (Trần Nhân Tông).

 (Thuở nhỏ chưa tường lẽ Sắc Không

  Xuân sang,hoa nở, rộn tơ lòng,

  Chúa Xuân nay đã thành quen mặt

  Nệm cỏ ngồi  thiền ngắm rụng hồng).

       Tô Đông Pha, văn hào nổi tiếng trong Văn Chương Trung Quốc vào cuối đời Đường đầu đời Tống, tinh thông sâu sắc Khổng Học, Lão Học, cuối cùng kế thừa Thiền Sư Đông Lâm Thường Tổng ngộ nhập cái “Vô Tình Thuyết Pháp” với cái Lý : “Sắc Không”:  

 “Quá nhãn vinh khô điện dữ phong
   Cửu trường na đắc tự hoa hồng
   Thượng nhân yến tọa Quán Không các
   Quán sắc quán không, Sắc tức Không”.

(Nghĩa là:Chuyện thịnh suy thành bại lướt qua trước mắt;

 nhanh như tia điện chớp hoặc như ngọn gió bay.
Sự lâu bền của nó chẳng được như màu hồng của đóa hoa.
Bậc thượng nhân ngồi yên lặng trên căn gác quán Không;
Quán tưởng Sắc, quán tưởng Không, rồi ngộ ra rằng Sắc chính là Không).
  

       Còn như Tuệ Trung Thượng Sĩ, Thầy của Tổ Sư Thiền Trúc Lâm Trần Nhân Tông, một khi đã nhận ra và ngộ nhập cái Lý Sắc Không này, thì cái Thân Tâm nhỏ bé như Cây Gậy bỗng dưng hóa thành Cọp thành Rồng: tung lên Sơn Hà sụp đổ, cắm xuống Trời Đất lung lay…an nhàn tự tại, sống giải thoát ngay trong cái sinh diệt của Thế Gian Mê:      

“Nhật nhật trượng trì tại chưởng trung
  Hốt nhiên như Hổ hựu như Long
  Niêm lai khước khủng sơn hà toái
  Trác khởi hoàn phương Nhật Nguyệt lung
  Tam xích Song Lâm hà xứ hữu

  Lục hoàn Địa Tạng khoái nan phùng

  Túng nhiên thế đạo kỳ khu thậm

  Bất nại tòng tiền bột tốt ông”.

 (Cây gậy ngày ngày nắm dạo rong

   Bỗng nhiên như Cọp dữ  như Rồng

   Tung lên chỉ sợ sơn hà lở

   Cắm xuống càng e Nhật Nguyệt rung

   Ba thước Song Lâm tìm mỏi mắt

   Sáu vòng Địa Tạng kiếm hoài công

   Dẫu cho đường tục chông gai mấy

   Lão chẳng như  xưa bước ngại ngùng).  

        Tại sao Cây Gậy hay cái Thân Tâm này của Cư Sĩ Tuệ Trung lại có “Thần Thông” làm tan hoại Núi Sông, che mờ Nhật Nguyệt? Tại sao Thân Tâm Ông vô tung tích, tìm mỏi mắt không ra, cả Phật Địa Tạng đi giáp vòng  cả sáu cõi Luân Hồi mà cũng chẳng thấy…? Vì Ông đã đạt Đạo, tự xem  cái “Thân Tứ Đại” hay cái “Hòn Bọt” này không phải là “Thân” nữa, mà nó đã tan hoại hòa nhập vào cái “Không” vô Tướng, cái Nhất Chân, là Pháp Thân, là Biển Lớn…trùm khắp cả Hư Không. Còn Tâm thì là “Tâm Không” nhập vào Tánh, vào Bát Nhã vi diệu biến hóa như Rồng. Thân và Tâm đồng là “Một” là cái “Không” bình đẳng, là “Bát Nhã”,“Bổn Lai Vô Nhất Vật”: Phi Tâm phi Vật, phi Phật, phi Phàm…vô Tướng vô Hình, đồng với cái “Rỗng Thênh Không Thánh”… thì làm sao Phật Địa Tạng tìm ra! 

       Lý Sắc Không này là lý Bát Nhã siêu việt là Đại Thần Chú chiếu kiến Ngũ Uẩn Giai Không, dứt trừ mọi phiền não. Bát Thức chuyển thành Tứ Trí cuồn cuộn sóng vô tận, lộ hết Thần Uy là Trí Tuệ Bát Nhã; đèn Tâm rực sáng, soi khắp 10 phương Chư Phật, đạt cứu cánh Niết Bàn Vô Sinh:  

 “Bát Nhã vi Thần Chú                 

   Năng trừ Ngũ Uẩn nghi              

   Phiền não giai đoạn tận               

   Thanh tịnh tự phân ly                 

   Tứ Trí ba vô tận                          

   Bát Thức hữu Thần Uy             

   Tâm đăng minh Pháp Giới       
   Tức thử thị Bồ Đề”.    
(Bồ Đề Đạt Ma).   

  (Bát Nhã là Thần Chú

   Trừ dứt năm Uẩn nghi

   Phiền não cũng mất trọn

   Thanh tịnh tự phân ly

   Bốn Trí cuồn cuộn sóng

   Tám thức lộ thần uy

   Ðèn Tâm soi Pháp Giới

   Ðó tức là Bồ Đề ).                 

        Lý “Sắc Không”, tuy Đức Phật gởi gắm nhiều “Mật Nghĩa” bí truyền trong Bát Nhã Tâm Kinh hay trong nhiều Kinh liễu nghĩa khác, nhưng Đức Phật, Tổ và Thiền Sư đôi lúc dường như hé mở cánh cửa Mộng như là điều “Thực Chứng” cái Lý: “Sắc tức thị Không” siêu huyền cực lý này để cho những ai có Tâm Bồ Đề thực lòng cầu Đạo đi tìm Chân Lý Giải  Thoát có niềm tin vững chắc. Thật vậy không có một Thí Dụ hay một Phương Tiện nào nhanh gọn, dễ hiểu hay dễ nhận ra Lý “Sắc Không” bằng giấc “Chiêm Bao” khi “Thức Dậy”. Kể cả cái Thuyết Tương Đối lừng danh của Nhà Bác Học Einstein với con Tàu Vũ Trụ vượt Không Gian bằng vận tốc ánh sáng cũng không nhanh gọn và rõ ràng bằng. Trong giấc Chiêm Bao mọi thế giới Hữu Vi có Sắc Tướng bao gồm Vũ Trụ Càn Khôn : Đất đá sơn hà đại địa nhà cửa cầu đường, chúng sanh muôn loài…cho đến âm thanh, ánh sáng, màu sắc, tiền bạc, châu báu, danh vị, chức tước, giàu sang, nghèo hèn…đều là Hư Vọng hay là Bóng Ảo không có thật. Cũng như Kinh Kim Cang có nói : Phàm sở hữu tướng giai thị Hư Vọng”. Lời Kinh được chứng minh rất rõ ràng là khi “Thức Dậy”, Thế Giới Hữu Vi trong Chiêm Bao hoàn toàn mất, không để lại một dấu vết : “Sắc tức thị Không”. Khi ngủ Mộng một người Bình Thường hay một người Bệnh đang lên cơn Mê, thấy Cảnh Giới Địa Ngục hiện ra y “Như Thật” với đầy đủ chúng sanh đang thọ Nghiệp : “Không tức thị Sắc”. Như vậy thì Kinh nói Thế Gian “Thực Tại” này cũng là Chiêm Bao, nhưng “Mở Mắt Chiêm Bao” thì cũng không khác với cái “Nhắm Mắt Chiêm Bao”. Do đó cái Thế Giới Hữu Vi “Thực Tại ” này cũng là Hư Vọng vì đang ở trong Cơn Mê “Mở Mắt Chiêm Bao” nên thấy “Có” như  “Thật”. Khi “Chứng Ngộ” hay “Thức Dậy” thì rõ ràng : “Sắc tức thị Không” và cái “Không” này là cái Không của người Chứng Đạo, là Chân Không, là Chân Tông, là Chân Lý tuyệt đối, là Như Lai, là Thực Tướng, là Bát Nhã, là Niết Bàn Vô Sanh thoát khỏi Luân Hồi. Còn cái “Sắc”, con mắt thấy Sắc là con mắt ở trong Nghiệp hay trong Mê, trong Mộng nên thấy có Sắc Tướng Như Thật. Cái Sắc chỉ là cái Bóng của Tâm Mê không có thật, chỉ là “Huyễn Có”. Nghĩa là Mê là thấy Sắc, Ngộ là thấy Không và Không này không phải là Ngoan Không (tức là hoàn toàn không có gì), mà là cái Không vi diệu của Phật, Tổ và Thiền Sư.  

        TÓM LẠI, Rõ Ràng Chân Lý “Sắc Không” đã hiển bày .Đảo qua đảo lại giữa thế gian Mộng Ban Đêm và khi “Thức Dậy” với cái “Thân Thật” nằm trên giường giải thích được rốt ráo lời khai thị siêu huyền cực lý của Phật,Tổ và Thiền Sư kể cả Kinh Liễu Nghĩa của Đức Phật như Hoa Nghiêm Kinh ,Bát Nhã Tâm Kinh…ta có tấm bản đồ chính xác .Đối chiếu thế gian Mộng Ban Đêm với thế gian Mộng Ban Ngày ,ta có chính xác phương hướng để đi. Chồng tấm bản đồ Mộng Ban Đêm lên Thế Gian Mộng Ban Ngày ,ta có một tấm bản đồ Chân Lý thực sự và tấm bản đồ nầy lại trùng với tấm bản đồ “MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA” mà Phật, Tổ và Thiền Sư đã trao!