Có ‘‘Tấm Bản Đồ’’ chính xác trong tay ,chỉ còn “LÊN ĐƯỜNG” với cả Thân và Tâm với sáu căn thanh tịnh hổ dụng đồng loạt . “LÊN ĐƯỜNG” với cái TÂM thẳng tận đầu nguồn : Tâm thấu suốt Tâm, trong suốt rỗng rang không có một vật ; cái Tâm phi Tâm phi Phật phi vật phi phàm, vô ngã chủ vô năng sở vô sở trụ… tương ưng với cái RỖNG KHÔNG BÁT NHÃ, cái RỖNG THÊNH KHÔNG THÁNH của Tổ Bồ đề Đạt Ma, cái TUYỆT HỌC VÔ VI của Thiền Sư Huyền Giác, CÁNH CỬA  RÕ CA DIẾP ở tận đầu nguồn Tâm, hay cái TÂM VÔ : “Vô TÂM nơi Sự, vô Sự nơi TÂM” của Thiền Sư Đức Sơn…

        Trên đường đi tìm Đạo, luôn luôn nhìn “Bản Đồ” mà đi thẳng nhắm hướng “Mục Tiêu Rốt Ráo” mà đi, không quanh co hoặc ghé vào Bến Bãi Lục Trần vì rất dễ bị cám dỗ , hoặc lạc đường lạc hướng quên mất đường đi. Khi đó uổng phí thời gian, nhiều khi uổng phí cả cuộc đời hay nhiều đời nhiều kiếp lạc vào Mê Cung của Nghiệp Chướng Vô Minh không biết đường trở về. Nếu gặp ngã ba đường khó xử hoặc trở ngại trên đường đi, gặp ách tắc dọc đường thì lập tức soi lại Bản Đồ tìm phương hướng  chính xác rồi mới tiếp tục đi, như thế mới không lạc và có niềm tin vững chắc là sẽ đến nơi. Như vậy mới thấy rằng Tấm Bản Đồ Lên Đường là rất cần thiết, không thể thiếu trong suốt cuộc hành trình đi tìm Đạo. Nó là Đại Thần Chú, Vô Thượng Chú, Vô Đẳng Đẳng Chú trừ hết mọi chướng ngại trên đường đi. Phật, Tổ, Thiền Sư nhờ nó mà đạt Chánh Đẳng Chánh Giác. Nó linh ứng vi diệu, Đức Phật gởi gắm nhiều Mật Nghĩa thâm sâu, là Tấm Bản Đồ “Bát Nhã” còn gọi là Tấm Bản Đồ “Sắc Không” hay “Sắc tức thị Không”, Tấm Bản Đồ “Không” hay “Chân Không” hay Tấm Bản Đồ “Mộng” vì nó đã được trắc nghiệm hay “Thực Chứng” bằng giấc Chiêm Bao, và cái Mục Tiêu Rốt Ráo của Tấm Bản Đồ là “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”.

        Còn Tấm Bản Đồ ‘‘Như Lai Địa’’ với cái cửa ‘‘Vô Vi’’ trong Chứng Đạo Ca của Thiền Sư Huyền Giác, Tấm Bản Đồ “Rỗng Thênh Không Thánh” với cái cửa “Trực Chỉ Nhân Tâm” hay‘‘Sáu cửa vào động Thiếu Thất’’ của Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Tấm Bản Đồ “Bổn Lai Vô Nhất Vật” với cái cửa ‘‘Vô Niệm’’ của Lục Tổ Huệ Năng, Tấm Bản Đồ ‘‘Vô’’ với cái cửa “Vô Môn Quan” của Thiền Sư Huệ Khai…v…v… tuy cơ duyên có khác, nhưng thực ra thì cũng đồng điệu như một, đều lấy Tâm làm Tông Chỉ và cửa Không làm cửa Pháp, chỉ “trực tiếp” vào Cửa, chỉ “tận gốc” vào đầu nguồn Tâm gốc Tánh để đạt Đạo: “Thẳng tận đầu nguồn phăng dấu Phật”.

        Chẳng hạn như,  nếu Tấm Bản Đồ “Bát Nhã” chỉ trực tiếp “Sắc tức thị Không” lấy Tâm (tức Sắc) làm Tông để đạt tới Ma Ha Bát Nhã (tức Không) như ngay trong cái tựa Kinh (Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh) thì đã ẩn chứa lời khai thị trực tiếp của Đức Phật: lấy Tâm làm con đường hay là Tông Chỉ  để đi suốt đường Tâm: đó là cái ( Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa “Tâm”) . Nghĩa là từ Tâm Ngọn đi suốt đường Tâm cho đến Tâm Gốc tận bờ bên kia, ở đây Đức Phật "chỉ thẳng": không nói đến Tâm Ngọn mà chỉ ngay cái Gốc tức là Tâm “Ba La Mật Đa” (cũng là cái Cửa Vô Vi của Thiền Sư Huyền Giác), huốt tận đầu nguồn là Ba La Mật Đa, tới đây thì Tâm biến dạng thành Phi Tâm, tức là TÁNH, tức là Ma Ha Bát Nhã. Cũng có thể gộp lại cái (Ma Ha Bát Nhã) và cái (Ba La Mật Đa) và khi đó là cái Tâm “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”, là cái Tâm rốt ráo cùng tột là Tâm phi Tâm, tức là Tánh. Vì Tâm này là Tâm "Phi", tức không còn là Tâm, là cái rốt ráo tận cùng, tức là cái: "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa". Còn là Tâm thì còn là Sắc, đạt tới Tánh thì Phi Tâm Phi Sắc, tức là Không, là “Sắc tức thị Không”.

        Tổ thứ tư Ưu Bà Cúc Đa (Upagupta) khi truyền Chánh Pháp Nhãn Tạng cho Tổ thứ năm là Đề Đa Ca (Dhirtaka) có nói bài kệ:  

  “Tâm tự bổn lai Tâm                    (Tâm tự xưa nay Tâm,

    Bổn Tâm phi hữu Pháp                Bổn Tâm chẳng có Pháp.

    Hữu Pháp hữu Bổn Tâm             Có Pháp có Bổn Tâm,

    Phi Tâm phi Bổn Pháp”.              Chẳng Tâm chẳng Bổn Pháp).

        Cái Tâm xưa nay vẫn là vậy (Tâm tự bổn lai Tâm). Bổn Tâm là cái Tâm “Ba La Mật Đa” huốt tận đầu nguồn tức là Tánh và ở trên Tánh thì không có một Pháp để thấy (Bổn Tâm phi hữu Pháp), đây là mặt Thể của Tánh. Nhưng nếu thấy có Pháp tức là có cái Bổn Tâm (tức là Tánh hay Tự Tánh) vì Bổn Tâm hay Tánh hay Tự Tánh tuy “Rỗng Thênh Không Thánh” nhưng lại “hay sanh muôn Pháp” là cái Chứng Ngộ của Lục Tổ Huệ Năng (Hữu Pháp hữu Bổn Tâm), đây là mặt Dụng của Tánh. Cuối cùng cái Bổn Tâm này hay Tánh hay Tự Tánh là Tâm mà Phi Tâm và ở nơi cái Tâm Phi Tâm không có một Pháp, cả đến cái Pháp Gốc (Bổn Pháp) để sinh ra Pháp cũng không có, bởi vì có Tâm mới có Pháp còn cái Tâm Phi Tâm này hoàn toàn không có một Pháp để thấy dù là Pháp Gốc. Tâm này là Tâm (Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa). Và một khi Ngộ Nhập thì : “Phi Tâm phi Bổn Pháp” tức không còn Tâm và một Pháp cũng không có: “Tâm Pháp song vong Tánh tức Chân” tức là cái “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”. Tới đây là chỗ rốt ráo tận cùng: "Phi Sắc Phi Tâm Phi hạnh Nghiệp", đạt tới "Không Tâm" và "Không Tâm" là Đạo, là cái Một tột cùng, là Chơn Nhất, là "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa".

        Nếu giải thích theo lời thông thường: (Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh) là Kinh (Trung Tâm) hay Kinh (Cốt Lõi) nói về cái (Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa) thì e rằng thiếu “cái áo nghĩa hay mật nghĩa” thâm huyền mà Đức Phật gởi gắm trong Bài Kinh? Lời giải nầy tuy có khác với thông thường, nhưng Tấm Bản Đồ “Bát Nhã” rõ ràng là chẳng khác với Tấm Bản Đồ “Trực Chỉ Nhân Tâm kiến Tánh thành Phật” của Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma:

                                    “Bát Nhã thanh tịnh hải

       Lý mật nghĩa u thâm

       Ba La Đáo Bỉ Ngạn

       Hướng Đạo kỳ do Tâm”

        Lật ngược bài kệ này lại, thì rõ ràng Tổ Đạt Ma cũng lấy Tâm làm Tông Chỉ, làm con đường để đi : “Hướng Đạo kỳ do Tâm”, và đi huốt đường Tâm đến tận gốc là “Ba La Đáo Bỉ Ngạn” (tới bờ bên kia) ngộ nhập cái “Bát Nhã thanh tịnh hải”, tức thì thấy TÁNH thành PHẬT, và Tâm là Sắc, Tánh là Không: “Sắc tức thị Không”.

        Tấm Bản Đồ “Chứng Đạo Ca” với Cái Cửa “Vô Vi” của Thiền Sư Huyền Giác thì cũng chỉ ngay cái Gốc: “Sắc tức thị Không”, Chiếc Cầu nối giữa Sắc và Không, giữa Tâm và Tánh, giữa Mê và Ngộ, giữa Thế Gian và Bát Nhã Chân Như hay Như Lai Niết Bàn…là cái Bí Quyết mà Thiền Sư Huyền Giác đã khai thị, hay cái kinh nghiệm Chứng Ngộ của Ngài.  Trước đây Ngài phạm lỗi lầm là học nơi Cái Ngọn và học vô số chữ nghĩa văn tự suông, uổng phí cả một đời người, đáng bị Phật quở trách: 

 “Ngô tảo niên lai tích học vấn,           (Ta sớm bao năm chuyên học vấn,

   Diệc tằng thảo sớ tầm kinh luận.           Từng viết sớ sao tìm kinh luận,

   Phân biệt danh tướng bất tri hưu,          Phân biệt danh tướng mãi không thôi,

   Nhập hải toán sa đồ tự khốn.                 Vào biển đếm cát tự chuốc hận,

   Khước bị Như Lai khổ ha trách,            Quả đáng bị Như Lai quở trách,

   Sổ tha trân bảo hữu hà ích.                    Châu báu của người có gì ích?

   Tòng lai tắng đắng giác hư hành,          Lâu nay đắng đót rõ công suông,

   Ða niên uổng tác phong trần khách”.   Uổng bấy làm thân phong trần khách!)

         Thiền Sư Nguyên Thiều (1648-1728), tông Lâm Tế đời thứ 33,trước khi tịch có bài kệ chỉ cái Vô Vi với Viên Ngọc Ma Ni . ‘‘Viên Ngọc’’ là Thể, là Tánh, là Bát Nhã hay là cái Vô Vi ; còn cái ‘‘Ánh Sáng’’của Viên Ngọc là Dụng , là Tâm, là cái Rõ hay cái cửa Vô Vi:  

“Tịch tịch Kính vô ảnh                          (Lặng lặng Gương không ảnh     
   Minh minh Châu bất dung  
                Sáng sáng Ngọc  không  hình
   Đường đường Vật phi vật                  Rõ ràng vật không vật
   Liêu liêu Không bất  không”.       
      Rỗng rang không chẳng không).

        Tấm Bản Đồ “Niêm Hoa Vi Tiếu” hay “Bổn lai Vô Nhất Vật”…thì cũng vậy. Nếu nhận ra được Cái Rõ hay cái Ánh Sáng Bát Nhã ngay trên Sắc kể cả ngay nơi Hư Không tức là đã tới Cái Cửa “Vô Vi” của Thiền Sư Huyền Giác, ngay nơi đó nhảy thẳng vào Đất Như Lai thì: “Sắc tức thị Không” và cái Không này là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

        Rốt ráo lại, tất cả những Tấm Bản Đồ của Chư Phật, Tổ và Thiền Sư có thể gọi là Tấm Bản Đồ “Bát Nhã” hay Tấm Bản Đồ “Sắc tức thị Không”, vì mục tiêu cuối cùng là đạt tới cái “Không” hay cái “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” thấy TÁNH thành PHẬT.

        Trong giấc Mộng Ban Đêm, cả thế giới Hữu Vi gồm sơn hà đại địa và mỗi chúng sanh đều chỉ là cái Bóng của Thân Tâm đang nằm ngủ Mê trên giường biến chiếu ra. Thân và Tâm trong Chiêm Bao không có thật, chỉ là Bóng ảo, do đó hoàn toàn thụ động và tùy thuộc vào cơn Mộng: Do Tâm Mê điều khiển, do đó không có con đường Giải Thoát. Trong  giấc Mộng Ban Ngày, có Thân Tâm với đủ Sáu Căn và Bát Thức nên hoàn toàn chủ động và với Tấm Bản Đồ “Bát Nhã” trong tay, thì con đường Giác Ngộ  đi tới Giải Thoát không phải là không thực hiện được một khi đã phát Tâm Bồ Đề. Phật, Tổ và Thiền Sư đã Chứng Ngộ trước và chỉ đường rõ ràng không thể nào lầm lẫn được: 

 “Tâm thị Căn, Pháp thị Trần,                         (Tâm là Căn, pháp là Trần,

   Lưỡng chủng do như kính thượng ngân.      Thảy đều ngấn bụi ám gương trong.

   Ngân cấu tận trừ quang thỉ hiện,                  Bao giờ ngấn hết gương trong lại,

   Tâm Pháp song vong Tánh tức Chân”.        Tâm Pháp cùng quên, Tánh rõ Chân)

                                                (Thiền Sư Huyền Giác).

        Sáu Căn là Tâm, Sáu Căn nói chung cũng là Thân. Do đó Thân cũng chính là Tâm, tuy Thân chỉ là Tứ Đại (Đất, Nước, Gió, Lửa) nhưng không phải là loại Tứ Đại vô tri giác. Bởi Tâm là vi diệu, đủ mọi hình trạng biến hóa từ Gốc cho tới Ngọn. Pháp Trần là Bụi Trần (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) bám vào Sáu Căn làm cho Gương Tâm bị che mờ. Bao giờ “Ngấn Bụi” bên Sáu Căn không còn dính mắc thì Gương Tâm sáng lại, soi chiếu khắp 10 phương. Lúc đó Tâm và Pháp hay Căn và Trần đều Không, nghĩa là Sáu Căn không chấp dính Pháp Trần hay Bụi Trần và không khởi niệm đạt đến Tâm Không hay TâmVô Niệm niệm thì Phật Tánh hiện bày, đạt Đạo Giải Thoát. Điều này trong Tấm Bản Đồ Mộng đã chỉ rõ: Trong Mộng, Thân Tâm không có, Pháp Trần cũng không có, chỉ là Bóng Ảo, khi Thức Dậy thì cả Tâm và Pháp trong Mộng đều là Không do Cái Thân Thật trên giường biến chiếu ra, Cái Thân Thật này dụ cho Tánh hay Bát Nhã. Tấm Bản Đồ Bát Nhã cũng chỉ y như vậy: “Vô Sắc, Vô Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Vô Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, Vô Sằc Thinh Hương Vị Xúc Pháp…” . Nghĩa là Tâm và Pháp đều không có, cho nên không chấp dính và khi đó thấy Tánh thành Phật.

        Thân Tâm của chúng sinh giống như Chiếc Máy Truyền Hình có thể xem được 7 Đài tương ứng với 7 thế giới khác nhau. Sáu Đài từ 1 tới 6 là thế giới trong Mê có tần số sóng hay Nghiệp Thức khác nhau, bao gồm thế giới của Địa Ngục, Ngạ quỷ , Súc sanh, A Tu La, Nhân và Thiên. Sáu thế giới này đều có đầy đủ hình ảnh , sắc tướng, âm thanh và hoạt động riêng biệt: ( Hữu, Hữu Tướng, Hữu Tác). Cả sáu thế giới trong Mê  đều có Tướng vật chất và Tướng không gian khác nhau vì khác tần số sóng hay khác Nghiệp, nên không thể liên lạc hoặc nhìn thấy được nhau, trừ một vài thế giới có tính năng đặc biệt như thần thông, nhập định…Một Đài số 7 là thế giới trong Ngộ có tần số sóng là “ Không”; không có Nghiệp; Không có một vật để thấy cho nên không có hình tượng và đứng yên bất động: (Vô, Vô Tướng, Vô Tác); là thế giới của Niết Bàn hay Bát Nhã Chân Như. Đối với Thân Tâm của chúng sinh Người, thế giới loài Người hiện ra trên Màn Ảnh Tâm Thức gồm tất cả nhà cửa, sơn hà, đại địa, vật chất sum la vạn tượng của thế giới người. Thân Tâm người tức Chánh Báo, thế giới loài Người tức Y Báo có cùng một tần số sóng hay cùng Nghiệp nên cùng hiện hữu, cùng thấy, nghe, hiểu, biết, xúc chạm với nhau, ngay cả có cùng một thân, mượn nhau làm thân vì cùng có 4 nguyên tố ( Đất, Nước, Gió, Lửa) giống y nhau chỉ khác nhau là ở trên Tướng:   “Một là Tất Cả, Tất Cả là Một”. Thân của tất cả chúng sinh và thân của cả sơn hà đại địa, cả vũ trụ là Một là (Đất, Nước, Gió, Lửa) . Nhưng (Đất, Nước, Gió, Lửa) cũng  là Một cùng một gốc là do một “Dị Điểm” trong vụ nổ Big Bang, là một niệm Vô Minh bất giác nổi lên giữa biển Chân Không Bát Nhã.     

“Vô Minh thật Tánh tức Phật Tánh

  Ảo hóa không thân tức Pháp Thân.

                             (Thiền Sư Huyền Giác).

        Cái Tánh thật của Vô Minh sinh ra Big Bang cũng là Phật Tánh tức là Không. Cái Ảo Hóa là chúng sinh và vạn vật vũ trụ này thật sự không có Thân tức là Pháp Thân Phật, tức là Không. Tất cả tại vì Mê vì nhìn bằng con Mắt Hữu, con mắt của Nghiệp Thức chúng sinh nên thấy là có Thân. Ở trong màn ảnh Chiếc Máy Truyền Hình, thấy có Thân có người, có nhà cửa cầu đường núi sông, có âm thanh sắc tướng và mọi hoạt động. Nhưng tất cả chỉ là Bóng Ảo không thật, khi tắt máy hoặc ngưng tần số sóng vô tuyến thì tất cả trở về không. Ở trong giấc chiêm bao, chúng sinh thấy có Thân, thấy có vũ trụ vạn vật đầy ắp trong Hư Không, nhưng khi thức dậy tất cả đều không chỉ là Ảo Hóa. Nếu không chấp dính với Sắc Trần, biết Thân Tâm này là giả là chiêm bao, đạt đến Thân không, Tâm không thì xem như được giải thoát : 

“Phiên thân nhất trịch xuất phần lung            (Xoay mình một ném vượt ra lồng

  Vạn sự đô lô nhập nhãn Không                     Muôn sự đều không ,nhập mắt không

  Tam giới mang mang Tâm liễu liễu               Ba cõi thênh thang , lòng sáng rỡ

  Nguyệt hoa Tây một, Nhựt thăng Đông”.    Trăng Tây vừa lặn, xuất vầng Đông”.

                                                                 (Tuệ Trung Thượng Sĩ). 

        Khi Thân Tứ Đại thoát ra khỏi cái lồng Sắc Trần của thế gian, giống như con chim hồng được thả tự do, bay bổng vào Hư Không, cả Thân Tâm hòa nhập vào Không thì liền nhìn sự vật với con Mắt Không (con Mắt Bát Nhã)  thấy mọi vật là Không, mặc tình du hí tam muội. Mộng Ban Đêm thấy Trăng , Trăng lặn về Tây rồi thì Mặt Trời của sự Giác Ngộ mọc lên ở phương Đông, nhìn thấy đúng sự thật tức Chân Lý.  

        Bồ Đề Đạt Ma cũng từng khai thị :    

“Thân tận Vô Minh tận,          (Không có Thân thì Vô Minh không đến được,

  Thọ báo khước lai kỳ.            Do đó, không có thọ Nghiệp

  Trí thân như huyễn hóa          Ngươi hãy nhớ rằng Thân ngươi là huyễn mộng

  Cấp cấp ngộ “Vô Vi”.             Hãy mau mau ngộ cái “Vô Vi” này).

        Tấm Bản Đồ Bát Nhã hay Tấm Bản Đồ Mộng đã chỉ rõ ràng lời khai thị của Tổ Đạt Ma: “Vô Vô Minh, diệc Vô Vô Minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.” trong Mộng cũng vậy: không có Vô Minh mà cũng không có Vô Minh tận, không có lão tử mà cũng không có lão tử tận…vì trong Mộng nếu thấy có Vô Minh và có Thân thì chỉ là cái Bóng giả tạo không có thật, khi Thức Dậy thì cái Vô Minh và cái Thân rõ ràng là không có, mà chỉ có cái Thân Thật đang nằm trên giường, dụ cho Pháp Thân, dụ cho Bát Nhã hay cái Vô Vi mà Tổ Đạt Ma đã khai thị: “Cấp cấp ngộ Vô Vi”.

     Do đó dựa vào Tấm Bản Đồ “Bát Nhã” hay Tấm Bản Đồ “Sắc tức thị Không” hay Tấm Bản Đồ “Mộng” này thì sự thật là Thế Giới hay cái Vũ Trụ này không có, và cái nguồn gốc sinh ra cái Vũ Trụ này là cái “Dị Điểm” Big Bang cũng không có, mà chỉ là “huyễn mộng”, vì tất cả chúng sanh đang “mở mắt chiêm bao” nên thấy có, là cái thấy của con mắt Nghiệp Mộng của chúng sanh Người. Đối với chúng sanh các cõi khác nhau như cõi A Tu La hay Ngạ Quỹ, rất có thể họ cũng  “mở mắt chiêm bao” và cũng thấy có cái Big Bang sinh ra Vũ Trụ và Thế Giới của họ. Thật ra tất cả đều là Mê, đều là chiêm bao, và chính những cái Big Bang như thế là cái trò Ảo Thuật do Nghiệp Lực hay Tâm Mê tạo ra bằng cách huyễn hóa. Do đó gỡ bỏ cặp kính Nghiệp hay cái Tâm Mê thì mới thấy được cái Chân. Big Bang đã không có, do đó nguyên tử Hydrogen vật chất cũng không có thì Tứ Đại : Đất, Nước, Gió, Lửa không có. Đất Nước, Gió, Lửa đã không có thì làm gì có cái Thân Tâm chúng sinh (tức Chánh Báo) và thế giới vũ trụ vật chất của loài Người chúng sinh này hiện hữu (tức Y Báo)…Do đó, Thân Tâm và Pháp Giới đều là Không : 

 “Tâm Pháp song vong, Tánh tức Chân”.

  (Tâm và Pháp đều không, Tánh hiện bày).

                                  (Thiền Sư Huyền Giác).

        Trường hợp của Thiền Sư Huyền Giác, Ngài ngộ nhập thẳng vào Tánh từ cái cửa Vô Vi :“Tranh tự Vô Vi Thực Tướng môn”. Nghĩa là từ cái “Tuyệt Cùng” của mọi sự vật Căn và Trần, là “Cánh Cửa” thâm nhập vào “Cái ” tức “Mặt Trăng Thứ Hai” mà không dừng lại hay kẹt lại nơi Cái hay “Mặt Trăng Thứ Hai” mà nhảy thẳng vào cái “Rỗng Thênh Không Thánh” hay cái “Không”: “Nhất siêu trực nhập Như Lai Địa”. Nhiều trường hợp người Ngộ Đạo tưởng rằng mình đã Ngộ Triệt, nhưng thật ra chỉ ở Mặt Trăng Thứ Hai , chỉ có vị Thầy đã Ngộ Triệt mới biết được và có thể giúp và khai thị cho vị này đi đến Triệt Ngộ. Đạt đến “Mặt Trăng Thứ Hai” thì cũng đã đạt đến Vô Sanh, nhưng vẫn chưa viên mãn, vẫn còn cảm thấy thiếu hoặc chướng ngại một điều gì rất vi tế, tự mình khám phá ra điều này thì rất khó, và nếu khám phá ra được mà không có vị Thầy Ngộ Triệt giúp đỡ thì cũng rất khó mà tự mình tháo gỡ cái vi tế chướng ngại này. Vì lẽ đó mà Thiền Sư Am Chủ Diệu Phổ chỉ rõ: 

 “Tâm Pháp song vong du cách Vọng,     (Tâm, Pháp đều quên còn cách Vọng
   Sắc Trần bất nhị thượng dư Trần.         Sắc, Trần như một vẫn thừa Trần
   Bách điểu bất lai Xuân hựu quá,           Trăm chim chẳng đến, Xuân cứ đến
   Bất tri thùy thị trụ Am Nhân”.
              Nào biết ai  là người Trụ Am?). 

        Còn nhớ Tâm, còn nhớ Pháp thì còn chướng ngại nhiều. Nhưng khi đạt đến chỗ Tâm Pháp đều quên nhưng vẫn còn cách một cái Vọng vi tế (tức là cái Bóng của Tâm và Pháp chưa dứt hẳn). Sắc Trần đã thấy không hai mà vẫn thừa Trần (tức cái Vọng Trần chưa dứt hẳn). Cho nên Ngộ mà chưa Triệt vì còn kẹt nơi cái Bóng của Sắc Trần, còn Tập Nghiệp dư. Vì Ngộ chưa Triệt nên không thấy mùa Xuân, vì Xuân đến mà  chưa thấy trăm chim. Chính đây mới là lúc để Tu Đạo, vì thấy được Đạo mới Tu Đạo. Còn chưa thấy Đạo mà Tu Đạo thì chưa biết được đường Tu của mình đúng hay là sai, nhưng sai mà hành trì suốt đời thì thật là uổng phí cả một đời người và có thể cả nhiều đời sau. Trường hợp của Lục Tổ Huệ Năng, tuy đã Ngộ cái “Bổn Lai Vô Nhất Vật”, nhưng mới ở chỉ “Mặt Trăng Thứ Hai”

 “Bồ Đề bổn vô thọ

   Minh kính diệt phi đài

   Bổn lai vô nhất vật

   Hà xứ nhạ Trần ai”

        Cho đến khi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng Kinh Kim Cang tới câu: “Ứng vô số sở trụ như sanh kỳ Tâm” thì mới hốt nhiên Đại Ngộ và khi đó Ngài tự thốt lên: “Không ngờ TỰ TÁNH hay sanh muôn Pháp…”. Trước đó Lục Tổ Ngộ cái “Bổn Lai Vô Nhất Vật” chỉ là cái Rõ hay cái Vô Vi. Về Lý thì xem như đã ngộ TÁNH là cái “Rỗng Thênh” không có một vật…lẽ ra là đã Ngộ Triệt?! Nhưng vì cái Rõ quá gần với TÁNH và hướng về TÁNH cho nên có thể nhận ra Bầu Trời Trong không có Vật của TÁNH. Có thể nói đứng trong cái Rõ mà Lục Tổ nhận ra được phần Thể của TÁNH, còn phần Dụng thì chưa thông. Đến khi nghe câu “Ứng vô số sở trụ như sanh kỳ Tâm” mới ngộ ra TÁNH thật sự. Vượt qua cái Rõ, nhập vào TÁNH, đứng trong TÁNH nhìn trở ra mới thấy được cái Dụng của TÁNH:  “Không ngờ TỰ TÁNH hay sanh muôn Pháp”. Chấp Dụng bỏ Thể thì không đạt Chân Lý, chấp Thể bỏ Dụng thì cái Chân Lý chưa hoàn hảo. Vào TÁNH thì phải thầu rõ luôn cái Dụng của TÁNH tức là TÂM giống như cái THÂN phải có đủ hai cánh tay Mặt và Trái tức Chân Không và Diệu Hữu. Như vậy thấy Chân Không Rỗng Thênh không một vật cũng chưa đủ, phải thấy luôn cả cái Diệu Hữu sinh ra Pháp Thế Gian, đi vào đời độ chúng với gót chân dính đất của Thế Gian mà không ô nhiễm.  Có thể phân tích cái Sở Ngộ của Lục Tổ qua ba lớp cửa . 1-Sơ Quan : khi đi bán củi  nghe Ông Viên Ngoại đọc Kinh Kim Cang, Ngài có Sở Ngộ đầu tiên. 2-Trùng Quan : khi đến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giã gạo ở chùa trong 8 tháng, Ngài nhận ra cái cửa Rõ hay cửa Vô Vi. 3-Lao Quan : khi Ngũ Tổ giảng lại Kinh Kim Cang vào lúc canh ba với chỉ một mình Lục Tổ , Ngài thâm nhập vào cửa Không là Triệt Ngộ. Thiền Sư Sư Bị (Tông Nhất) khi thấy vị Sư Huynh là Tuyết Phong chưa Ngộ Triệt nên đã nhiều lần nhắc nhở khéo: “Hòa Thượng gót chân chưa dính đất”. Một khi đã Triệt Ngộ thì dù có đi vào đời gặp nhiều giông tố hay phiền não của Thế Gian để độ đời thì vẫn an nhiên tự tại, hay có giả làm người khùng điên như Tế Điên Hòa Thượng thì Tánh Phật vẫn không bị ô nhiễm: 

                        “Minh minh thường tự tại            (Rõ ràng thường tự tại.

                          Diệc niết mục tác quái                Cũng dụi mắt làm quái

                          Kiến quái bất kiến quái              Thấy quái, chẳng thấy quái

      Kỳ quái tất tự hoại”.                   Kỳ quái ắt tự hoại).

        Đài số 5 ứng với tần số sóng của Người hay Nghiệp Thức loài Người, màn ảnh truyền hình hiện ra loài Người Ảo và thế giới loài Người Ảo, chỉ là cái Bóng trên màn ảnh, là Mê. Khi Giác Ngộ hay tắt điện hoặc tắt sóng thì Sắc Tướng trên màn ảnh truyền hình hay màn ảnh của Tâm Thức mất trở về Không: “Sắc tức thị Không”. Chính cả cái Tâm Thức này cùng mất trở về Không, kiến Tánh thành Phật. Từ cái Quang Minh tịch chiếu, bất giác một niệm Vô Minh nổi lên trùng trùng duyên khởi ra thế giới và chúng sinh trong 6 nẻo luân hồi chìm đắm vào bóng  Mê với thân ảo, thế giới ảo, không có cách nào thoát ra được.  Vì càng Tác, càng động thì niệm niệm lại sinh ra, thế giới Mộng lại càng sinh, chúng sinh trong Mộng lại càng điên đảo. Giống như Mặt Biển càng động là sóng càng nổi lên. Do đó phải buông niệm, vô tác tức trở về “ Vô Niệm”, như “cánh cửa Vô Niệm” của Lục Tổ Huệ Năng, giống như ngừng tác động thì Mặt Biển từ từ yên lặng trở lại. Lục căn thì điên đảo, vì nó cùng tần số với Nghiệp Thức chúng sanh, Lục căn vừa khởi niệm, dù cho niệm đầu hay niệm cuối vẫn là điên đảo thì Vô Minh liền tới, hiện ra thế giới Mê:    

“Quang Minh tịch chiếu biến hà sa      (Quang minh lặng chiếu khắp hà sa,

  Phàm Thánh hàm linh cộng ngã gia,       Phàm Thánh hàm linh vốn chung nhà.

  Nhất niệm bất sinh toàn thể hiện,          Một niệm chẳng sinh, toàn thể hiện,

  Lục căn tài động bị vân già”.                 Lục căn vừa động bị che lòa). 

                                  (Trương Chuyết).

        Như vậy “ Vô Niệm” thì tất cả trở về nguyên thủy, trở về cái Gốc của Bản Tánh Chân Như, trở về Không, trở về cái “Rỗng Thênh Không Thánh”, tức là ngộ nhập cái: ‘ Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”. Lúc đó thì Thân không, Tâm không, Pháp cũng không: Tâm Pháp đều không thấy Tánh thành Phật. Đạt được TÂM KHÔNG nầy xem như đã TU đến tận Gốc rồi không cần phải TU cái Ngọn. TU mà xem như Không TU. Không TU theo pháp thế gian nhưng lại TU theo Phật CỔ ĐÀM, chư TỔ và Thiền Sư. Không TU theo hình tướng cầu xin cúng lạy Phật tướng bên ngoài dù cho Phật tướng ấy bằng vàng ròng, ngọc thạch, châu báu hay kim cương…Nhưng TU Phật nơi “ TỰ TÂM” vì “TỨC TÂM TỨC PHẬT” và “KHÔNG TÂM là ĐẠO”.   

       Thật ra nên bỏ luôn chữ TU, vì chữ TU chỉ là tự sửa mình của người thế gian; một nghĩa khác: TU là hành trì một Pháp môn nào đó của một Tôn Giáo.Thời Đức Phật không có hành trì cúng tế lễ bái như các Tôn Giáo . Đức Phật chỉ đi tìm Chân Lý Giải Thoát bằng cách đi du phương tìm học Đạo Lý và cuối cùng Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề suốt 49 ngày để tư duy, quán chiếu và tìm ra Chân Lý Giải Thoát bằng Thực Chứng. Khi thành Đạo rồi, Ngài cũng không có lập Tôn Giáo và tự xưng mình là Giáo Chủ, mà chỉ là Ông Thầy chỉ đường (Thiên Nhân Sư), không có dạy cúng bái tế lễ như các Tôn Giáo thời bấy giờ, mà chỉ đi thuyết Pháp độ chúng sinh, cứu chúng sanh ra khỏi đường Mê và giải thoát sinh tử. Các vị Tổ và vô số Thiền Sư ngộ Đạo cũng thế, không có hành trì hay TU ĐẠO. So với các Tôn Giáo thì xem như Đức Phật và Thiền Sư không TU không TÁC. Đạo Lý của Đức Phật chỉ có một vị duy nhất là GIẢI THOÁT, lấy TRÍ TUỆ và TỪ BI làm gốc, không mê tín dị đoan.   

 “Kiến Đạo phương tu Đạo              (Thấy Đạo mới Tu Đạo

   Bất kiến phục hà tu                        Chẳng thấy lấy gì Tu

   Đạo tánh như Hư Không              Tánh Đạo như Hư Không

   Hư không hà sở tu                        Hư không Tu chỗ nào

   Biến quán tu Đạo giả                    Khắp nơi người Tu Đạo

   Bác hỏa mích phù âu                    Vạch lửa tìm bọt nổi

   Đản khán lộng khối lỗi                Chỉ xem người gỗ máy

   Tuyến đoạn nhất thời hưu”         Đứt dây một lúc dừng).

   (Bài kệ không TU không TÁC của Thiền Sư Bổn Tịnh).

        Thiền Sư Bổn Tịnh từng chỉ Đạo cho một vị Tăng ở triều đình là Pháp Không về cái ‘‘không Tu, không Tác’’: ‘‘Đạo vốn không Tu ,Đại Đức cưỡng Tu ; Đạo vốn không Tác, Đại Đức cưỡng Tác ; Đạo vốn không Sự,  Đại Đức cưỡng sanh đa Sự ; Đạo vốn không Biết  ở trong ấy cưỡng Biết ,thấy hiểu như thế cùng Đạo trái nhau…, tự Đại Đức không hội, xin suy gẫm lại ’’.  

        Thiền Sư Bảo Giám, môn phái Thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 9, kế thừa Thiền Sư  Đa Vân. Làm Quan đến chức Cung Hậu Xá Nhân đời Vua Lý Anh Tông. Năm  30 tuổi Sư từ Quan đến Chùa Bảo Phú xuất gia. Sư thường dạy chúng: “Muốn tiến đến Tông Thừa của Phật thì phải siêng năng, nhưng thành Phật Chánh Giác phải nhờ Trí Tuệ. Ví như nhắm bắn cái đích ngoài trăm bước, mũi tên đến được là nhờ sức mạnh, nhưng trúng được đích không phải do sức”. Khi sắp tịch, Sư nói kệ:  

“Đắc thành Chánh Giác hãn bằng Tu,         (Được thành Chánh Giác “ít nhờ Tu”,

  Chỉ vị lao lung, Trí Tuệ ưu.                        Ấy  chỉ nhọc nhằn, “Trí Tuệ ưu”.

  Nhận đắc Ma Ni huyền diệu lý,                 Nhận được Ma Ni lý huyền diệu,

  Chỉ như Thiên Thượng hiển Kim Ô.         Ví thể trên không hiện vầng hồng.

  Trí giả du như Nguyệt chiếu Thiên,          Trí giả khác nào Trăng rọi Không,

  Quang hàm trần sát chiếu vô biên.           Chiếu soi khắp cõi sáng không ngần.

  Nhược nhân yếu thức tu phân biệt,          Nếu người cần biết, nên phân biệt,

  Lãnh thượng phù sơ tỏa mộ yên.              Khói mù man mác phủ non chiều). 

        Thế gian thường chấp vào Hình Tướng bên ngoài mà cho là Tu, trong Kinh Kim Cang, Phật nói : 

“Nhược dĩ  Sắc kiến Ngã                          (Nếu do Sắc thấy Ta

  Dĩ âm thanh cầu Ngã                               Do âm thanh cầu Ta

  Thị nhân hành Tà Đạo                             Người ấy hành Đạo Tà

  Bất năng kiến Như Lai”.                         Không thể thấy Như Lai).           

          Tuy nhiên trong Kinh, Phật có khuyên chúng sinh xây dựng Già Lam, đúc tạc Hình Tượng, đốt Hương, rắc Hoa, chong Đèn sáng mãi…đủ thứ Công Đức mới thành Phật Đạo. Theo Tổ Bồ Đề Đạt Ma: Vì chúng sinh căn cơ cùn lụt nên Phật phương tiện, mượn Pháp Hữu Vi làm thí dụ cho Pháp Vô Vi, nhưng chúng sanh lại “hiểu lầm”, làm trái ý Phật.

        - Xây dựng Già Lam : Là lấy Thân làm ngôi Chùa, nơi thanh tịnh địa, xa lìa Tam Độc, tịnh Sáu Căn, Thân Tâm vắng lặng như Hư Không.

        - Đúc tạc Hình Tượng : Tức là phỏng theo Chân Dung diệu tướng của Như Lai, không phải đúc vàng, tạc ngọc làm Tượng Phật. Người cầu Đạo phải biết lấy Thân làm Lò Đúc, lấy Pháp làm Lửa, lấy Trí Tuệ làm Tay Thợ Khéo, lấy Ba Giới Tụ Tịnh - Sáu Ba La Mật làm Khuôn Đúc, nấu chảy và rèn đúc chất Chân Như Phật Tánh ở trong Thân thành hình tượng của Chân Dung, là Pháp Thân thường trụ vi diệu.

        - Việc đốt Hương : Không phải là dùng lửa đốt gỗ trầm hương xông khói mù mịt của Thế Gian, mà là Hương của Pháp Vô Vi (Hương Chánh Pháp) xông lên làm cho Nghiệp dữ Vô Minh tiêu mất. Đó chính là: Hương Giới, Hương Định, Hương Huệ, Hương Giải Thoát Hương Giải Thoát Tri Kiến. Khi còn tại thế, Phật khuyên các Đệ Tử lấy lửa Trí Tuệ đốt thứ Hương Báu vô giá này để cúng dường Chư Phật mười Phương.

        - Việc rắc Hoa : Là hoằng dương Chánh Pháp, rải rắc gieo trồng khắp nơi : “Thí Pháp độ sanh”. Hoa Công Đức này làm lợi ích cho vô số chúng sanh dứt trừ phiền não, phá được Vô Minh đi đến Giải Thoát. Hoa Công Đức mà Phật xưng tán, mùi hương tỏa khắp mười phương không bao giờ héo rụng, rốt ráo thường trụ. Còn việc chặt cây, bẻ nhánh để dâng Hoa cúng Phật của Thế Gian, xúc phạm đến tịnh giới của muôn tượng muôn vật trong Trời Đất, hủy phá tự nhiên, gây hại cho muôn loài để cầu Phước Báu thì không thể nào có mà còn tạo thêm Nghiệp xấu.

        - Chong Đèn sáng mãi: Cái Ánh Sáng của viên ngọc Ma Ni hay cái Ánh Rõ Bát Nhã dụ cho ngọn Đèn Tâm, người tìm cầu Đạo Giải Thoát phải lấy Thân làm Đèn, Tâm làm Tim Đèn, Giới Hạnh làm Dầu đốt. Trí Tuệ sáng tỏ như ngọn Đèn Chánh Giác chiếu phá tất cả Bóng Đen của vô minh nghiệp chướng, chuyển Pháp Luân mồi sáng cho nhau, một ngọn Đèn mồi qua trăm ngàn ngọn Đèn, Đèn Đèn vô cùng vô tận, phát lên ánh Bát Nhã Chân Như vi diệu trùm khắp. Phật tên Nhiên Đăng cũng theo nghĩa đốt Đèn nầy. Còn Phật Thích Ca phóng Hào Quang giữa đôi mi chiếu suốt ba ngàn Thế Giới, đó là Ngọn Đèn Trí Tuệ Bát Nhã. Chúng sanh không hiểu lời nói phương tiện của Phật lại bày vẽ theo Hình Tướng đốt lên Đèn dầu, Đèn điện soi vào căn nhà trống nói làm theo lời Phật, mà Trí Tuệ  vẫn mờ tối,Tam Độc vẫn còn nguyên.

        Ngoài việc chấp vào Hình Tướng mà cho là Tu, Thế Gian còn chấp cả Kinh Phật và y theo lời Kinh mà không hiểu rõ ý Kinh, cho là Tu theo lời Phật dạy. Phật từng nói : “Đạt Ý quên Lời. ; hoặc : “Biết Ta mà không hiểu Ta tức là hủy báng Ta. ; hoặc : “Y Kinh mà hiểu nghĩa thì oan cho ba đời Chư Phật, nhưng sai đi một chữ lại đồng với Ma thuyết.. Chính Phật cũng nói : “Ta nói các ngươi đừng vội tin, hãy thử lời nói của Ta như thử vàng, đập nó vào đá, phân tích nó, nấu chảy nó, nếu nhận xét thấy nó đúng, hợp lý, có lợi ích thì mới tin”.

        Phật dạy : “Ta đã trải qua ba Đại A Tăng Kỳ Kiếp, chịu vô số khổ nhọc mới thành được Phật Đạo”. Thế Gian liền cho rằng chính Phật phải Tu lâu tới ba Đại A Tăng Kỳ vô số kiếp mới Ngộ Đạo thành Phật, chúng ta là phàm phu làm sao chỉ Tu có một kiếp mà thành Đạo được, cho nên cần phải cầu Phật độ về một Cõi nào đó rồi mới Tu tiếp vài A Tăng Kỳ nữa mới Ngộ Đạo như Phật. Điều này trong Phá Tướng Luận Tổ Bồ Đề Đạt Ma giải thích : “Lời Phật nói ra không hề hư dối. A Tăng Kỳ Kiếp tức là Tâm ba độc (Tham, Sân, Si). Từ trong Tâm ba độc ấy, có đủ thứ “niệm ác” nhiều như cát sông Hằng. Ở mỗi một niệm ấy là một kiếp, vậy là có hằng hà số kiếp đếm không xuể, nên nói ba Đại A Tăng Kỳ. Tánh Chân Như bị ba độc che khuất. Nếu chẳng vượt lên Tâm đại hằng hà sa độc ác ấy thì làm sao giải thoát. Nếu nay “chuyển được ba độc Tham Sân Si”  làm “ba món Giải Thoát”, đó gọi là vượt qua ba Đại A Tăng Kỳ Kiếp. Chúng sanh ở thời đại cùng mạt này, căn trí ngu si, cùn lụt, không nhận được ý sâu kín của Như Lai trong câu nói "Ba Đại A Tăng Kỳ", nên nghĩ Như Lai phải qua vô số kiếp như cát bụi mới thành Phật, điều ấy hà chỉ khiến người tu ngờ hão mà lùi bước Bồ Đề sao?”.  Trong khi đó, Pháp Đốn Ngộ của Thiền Sư chỉ cần một sát na, một cái nháy mắt là đã rũ xong Ba A Tăng Kỳ Kiếp. 

“Chứng Thực Tướng , vô nhân pháp,                   (Chứng Thực Tướng, không nhân pháp,
  Sát na diệt khước A Tỳ Nghiệp.                          Sát na rũ sạch A Tỳ Nghiệp
  Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh,        Bằng đem lời vọng dối chúng sanh,
  Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp”.
                         Tội rút lưỡi nguyện mang cùng kiếp).

                                                (Thiền Sư Huyền Giác).

        Thời Đức Phật có rất nhiều người Ngộ Đạo.Sau khi chứng Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Phật đi tìm lại những Vị Thầy và những Hành Giả cũ để giúp đỡ họ. Tuy nhiên những Vị Thầy này đã qua đời. Khi gặp lại năm anh em Kiều Trần Như, chỉ bài Pháp đầu tiên là  Tứ Diệu Đế, cả năm người đều tỉnh thức và Chứng Đạo. Rồi sau này những Vị Đại Đệ Tử  và các Sa Môn đi theo Ngài, rất nhiều người đã Chứng Đạo. Cho đến những người đã bị Ngoại Đạo và xã hội từ chối, bị miệt thị là “tiện dân” như kỹ nữ Liên Hoa Sắc từng ở trong một kỹ viện, Ưu Ba Ly là người chuyên gánh phân …đều Ngộ Đạo. Sau Đức Phật, ở Ấn Độ, trải qua 28 đời các Vị Tổ Sư, ngoài các Vị Tổ có rất nhiều người cũng Chứng Đạo mà không cần phải Tu đến ba Đại A Tăng Kỳ… Ngay thời của Ngài Huyền Giác hay Tổ Huệ Năng, được coi là Mạt Pháp cũng có rất nhiều người Ngộ Đạo trong một kiếp hiện sinh, khi họ gặp được Chánh Pháp và Chân Sư.

        Thật ra Mạt Pháp, Tượng Pháp hay là Chánh Pháp không thành vấn đề, miễn là có người Ngộ Đạo ra đời thì Mạt Pháp là Chánh Pháp.Cũng như thời Đức Phật và trước Đức Phật không có một người Ngộ Đạo và có tới 96 mối Đạo thì quả là Mạt Pháp. Nhưng có Phật Thích Ca đầu tiên Ngộ Đạo ra đời thì ngay đó là Chánh Pháp. Thế Gian cho thời nay là Mạt Pháp, rất khó Tu Thiền và rất khó Ngộ Đạo ở Cõi Ta Bà, do đó phải cầu cứu nơi Phật để Phật đưa về một cõi khác dễ Tu hơn và không bị thoái chuyển…Tuy nhiên, Đức Phật khi Chứng Đạo đã khám phá ra một Chân Lý tuyệt vời : “Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh bình đẳng, Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Như vậy chúng sanh đã có sẵn hạt giống Phật thì gieo trồng nơi nào mà không lên, vã lại cõi Ta Bà nầy, nơi Ông Cha đã từng gieo hạt Phật và hạt Phật đã nẩy mầm kết trái, tại sao Con Cháu phải bỏ đi Ruộng Đất của Cha Ông đã từng gieo hạt và thành công để đi một nơi nào đó thật xa, không biết , không thấy, chỉ nghe nói để gieo hạt giống Phật? Là Phật Con có dòng máu Phật, ít nhiều cũng phải có chút Trí Tuệ Phật thì phải có quyền nghi ngờ, tư duy và quyền chọn lựa! Có một điều là  từ Phật, Tổ và Thiền Sư khi Chứng Đạo thì tự biết. Cũng như bất cứ một hành giả nào đi tìm Đạo, khi Chứng Đạo hay chưa Chứng, hoặc Thân Tâm mình đang ở mức độ nào đều biết rõ ràng,  như một người đang ngủ mê khi thức dậy là tự biết mình đã thức không cần phải hỏi ai cả. Tức là ngay khi còn sống có đủ Thân Tâm hay Sáu Căn là đã biết mình Chứng Đạo hay là chưa và tự biết mình đã làm gì có đi vào ba đường ác hay không ? Thí dụ như suốt đời chỉ làm điều thiện, tránh điều ác… thì người đó đi từ chỗ sáng đi về sáng ; còn như trộm cướp giết người…thì người đó đi từ chỗ sáng tới chỗ tối, đúng theo luật Nhân Quả...

        Như vậy có vẻ chắc chắn hơn là đợi đến lúc lâm chung, Thân Tâm hay Sáu Căn không còn hoạt động nữa rồi mới biết mình đi về đâu thì e rằng quá muộn, hay rất khó mà biết hay tin được. Bên trời Tây, có triết gia người Đức tên là Feuerbach Ludwig Andreas thế kỷ 19, Ông không tin vào Tôn Giáo, vì chỉ dựa vào Đức Tin hay Niềm Tin suông mà không có Thực Chứng hay Thực Nghiệm như Khoa Học. Ông phê phán gắt gao Đức Tin Tôn Giáo chẳng hạn như : Thực sự có Thượng Đế và Thiên Đàng hay không ? Ông cho rằng Con Người vì lười biếng suy nghĩ, không chịu tư duy nghiên cứu… đã dựng lên một “Bức Bình Phong” rồi “Siêu Cực Hóa” Bức Bình Phong ấy thành một Đấng Thượng Đế có toàn năng toàn lực và giàu có. Rồi sau đó bất cứ điều gì hay chuyện gì đều “giao khoán” hay  “phó thác” cho Đấng Thượng Đế mà mình vừa tạo ra. Chẳng hạn những hiện tượng thiên nhiên như : mưa gió, sấm sét, bão lụt, hạn hán, động đất, sóng thần, ngay cả bệnh dịch hay chiến tranh đều phó thác cho là Vị Thượng Đế đó làm ra để hình phạt loài Người. Trong khi Con Người thì trở nên nghèo nàn đi, bất lực và yếu đuối trước một Thượng Đế giàu sang, đầy quyền lực. Khi đó, Feuerbach cho rằng Con Người nếu chịu khó tư duy suy nghĩ và có óc sáng tạo thì mọi việc sẽ ra ánh sáng. Thí dụ như Trời mưa là do Nước bốc hơi thành mây rồi ngưng tụ, rơi xuống. Sấm sét là do các đám mây mang điện tích dương của ion H+ và điện tích âm của ion O- do phân tử Nước (H2O) tách ra khi ở thể khí, hai loại mây mang điện tích âm và dương nầy khi gặp nhau cho ra tia điện nổ thành sấm sét hay Trời gầm. Bệnh dịch là do một loại virus gây truyền nhiễm lan rộng ra, phải nghiên cứu chế thuốc vaccine để ngăn trừ hơn là chỉ  ngồi cầu Thượng Đế cứu rỗi. Có suy nghĩ, nghiên cứu, phân tích như thế thì Thượng Đế sẽ chết, không còn chỗ đứng trong vũ trụ này nữa. Do đó Thượng Đế chỉ là sự Thể Hiện của Bóng Tối ngu dốt hay sự ‘‘Lười Biếng Tri Thức’’ của Con Người. Còn Tri Thức Con Người hay Tri Thức Khoa Học là sự Thể Hiện của Ánh Sáng Chân Lý, hay Sự Thật, do đó suy ra không có Thượng Đế, mà chính Con Người là Thượng Đế ! Quan điểm táo bạo của Feuerbach giống Phật Pháp ở điểm chỉ tin vào Trí Tuệ và có Thực Chứng hay Thực Nghiệm như Khoa Học hơn là chỉ Tin để mà Tin hay chỉ là Đức Tin suông, mặc dù đó là Truyền Thống lâu đời hay Sách Vở, Kinh Thư cổ xưa để lại.

        Trong Chứng Đạo Ca, Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác, một Thiền Sư đã ‘‘Chứng Đạo’’ chỉ rõ : Ngọn Đèn Tâm từ Phật Thích Ca trao cho Tổ Ca Diếp, rồi truyền qua 28 đời ở Tây Trúc, vào Trung Hoa với Bồ Đề Đạt Ma là Sơ Tổ, qua sáu đời truyền Y Bát cho tới Lục Tổ Huệ Năng, nếu nghe theo thì người sau sẽ Đắc Đạo nhiều vô số.  

“Lục đại truyền y thiên hạ văn         (Sáu đời truyền y thiên hạ nghe”.

  Hậu nhân Đắc Đạo hà cùng số    Người sau Đắc Đạo nhiều vô số). 

        Như vậy Hậu Thế nên nghe Thiền Sư Huyền Giác “Đã Chứng Đạo” , khai thị hay nghe người Thế Gian “Chưa Chứng Đạo” chỉ dạy ? Đạo Phật là Đạo của Trí Tuệ: “Duy Tuệ thị Nghiệp”. Do đó là Phật Con phải dùng Trí Tuệ để quán chiếu sâu sắc mọi sự việc không nên tin bừa bãi vào bất cứ việc gì mà lạc vào mê tín, làm trái ý Phật và vô tình làm cho chúng sanh thụ động đánh mất cái “Phật Tánh” hoặc làm chết đi cái “Phật Tánh” của chúng sanh mà Đức Như Lai đã khám phá ra: vì Mê nên cõng Phật đi lạy Phật, cởi Trâu đi tìm Trâu…

        Thật ra Đức Phật muốn chúng sanh có sẵn Phật Tánh đều là “Phật Con” chứ không là “Con Phật”, bởi có câu: “Cha làm Thầy, Con đốt Sách”. Vì ỷ lại là “Con Phật” nên bê tha, không chịu học hành rèn luyện Trí Tuệ và Đức Hạnh, ham vui chơi với đời và bạn bè xấu, bị Lục Trần và Ngũ Dục trói buộc , Tánh Phật bị ô nhiễm bởi Vô Minh và Nghiệp Chướng dày đặc che khuất không còn sáng suốt, có chuyện phiền não sợ hãi lại đi cầu Phật. Còn “Phật Con” thì đã là Phật rồi, hạt giống Phật tức “Phật Tánh” đã nẩy “mầm” tuy còn non, nhưng Pháp Trần không thể ô nhiễm, Trí Tuệ vượt khỏi Vô Minh, giống như Sư Tử Con mặc dù Tuổi còn nhỏ, Thân còn non, nhưng tiếng “Hống” lại khỏe mạnh, sắc bén và đầy hùng lực muông thú nghe qua khiếp đảm, rớt hết Tâm Mê.  

 “Sư Tử nhi, chúng tùy hậu,                       (Sư Tử Con chúng theo Mẹ,

   Tam tuế tiện năng đại hao hống.             Tuổi mới lên ba đà hống khỏe

   Nhược thị dã can trục Pháp Vương,       Chó rừng dầu bén gót Pháp Vương,

   Bách niên yêu quái hư khai khẩu”.        Trăm năm yêu quái há mồm suông).      

                                         (Thiền Sư Huyền Giác).

        Nếu tất cả chúng sanh đều là Phật Con hay Sư Tử Con như thế thì mới thật xứng đáng là đã mang dòng máu Phật, tức hạt giống Phật Tánh, và Phật Tánh này ở ngay nơi Tự Tâm tận đầu nguồn, khi đó Tức Tâm Tức Phật. Cho nên không cần phải tìm Phật bên ngoài hay cầu Phật bên ngoài Tâm. “Phật Con” như thế mới là Bản Lĩnh của Phật Tánh, xứng đáng là Con Cháu của Phật, Tổ và Thiền Sư ngoại hạng:

 “Ta thà cầu Tâm chẳng cầu Phật

   Rõ ra ba cõi không một vật

   Nếu muốn cầu Phật, thà cầu Tâm

   Chỉ Tâm Tâm, Tâm ấy tức Phật”.(Bồ Đề Đạt Ma).

        Bởi vậy, Kinh Phật phải qua tay Người đã Ngộ Đạo như các Tổ và Thiền Sư thì trở thành “Pháp Bảo” của Phật, nhưng qua tay người chưa Ngộ Đạo, hay lời truyền tụng hoặc truyền thống của Thế Gian thì nên xét lại. Phật Pháp có câu: “Tùng Văn Tư Tu, Nhập Tam-Ma-Địa”. Nghĩa là trước tiên hãy VĂN tức là nghe, đọc, tham cứu, truy cứu, truy tìm… rồi mới TƯ tức là tư duy, suy nghĩ, phân tích, so sánh cho thật kỹ… đạt đến “Chánh Tín” rồi mới TU; nhưng cũng không TU theo Pháp Thế Gian mà theo “Dấu Chân” của Phật Cồ Đàm, các Tổ và Thiền Sư. Như thế mới khỏi lạc vào Mê Tín hay Cuồng Tín, uổng phí cả một đời người hay một đời Tu. Một điều vô cùng lợi ích là đã có Phật, các Tổ và vô số Thiền Sư Ngộ Đạo để lại biết bao nhiêu Tàng Kinh, Luận Thuyết vô giá, chỉ đường rõ ràng. Nếu không may mắn gặp được một Vị Thầy Ngộ Đạo chỉ dẫn hay khai thị thì chia sẻ cùng Thiện Hữu Tri Thức, nhưng phải “ Độc hành độc bộ” như Đức Phật, Chư Tổ và Thiền Sư đã làm.

        Dù cho gặp thời Mạt Pháp thật sự, Phật pháp bị suy đồi như Ngài Huyền Giác than trách trong thời đại của Ngài: 

“Ta ! Mạt Pháp, ác thời thế                      (Than ôi! Mạt Pháp, thời thế ác

  Chúng sinh phước bạc nan điều chế.       Chúng sinh phước mỏng khó điều phục

  Khứ thánh viễn hề, tà kiến thâm             Xa cách Hiền Thánh, tà kiến sâu

  Ma cường, Pháp nhược đa oán hại”.      Ma mạnh, Pháp yếu, nhiều ác tệ).

        Khi đó Pháp Viên Đốn của Như Lai do Đức Phật truyền cho Tổ Ca Diếp đến Tổ Đạt Ma rồi Lục Tổ Huệ Năng…bị thế gian xuyên tạc, thù ghét, thậm chí còn bị hãm hại ( như Tổ Đạt Ma bị thuốc độc tới 6 lần).   

“Văn thuyết Như Lai đốn giáo môn         (Nghe nói Như Lai phép đốn tu

  Hận bất diệt trừ như ngõa toái”.            Hận chẳng nghiền tan như ngói bể).  

        Cũng khi đó Pháp Đốn Ngộ  “ Vô Niệm” của Lục Tổ Huệ Năng  bị thế gian xuyên tạc gièm xiểm đến nỗi có người đến rình rập để hạ sát Ngài (Trương Hành Xương  - Chí Triệt) và mấy trăm năm sau, người ta vẫn còn tìm nhục thân của Ngài để xúc phạm. Pháp Đốn Ngộ của Tổ lấy Vô Niệm làm Tông, Vô Tướng làm Thể, Vô Trụ làm Gốc. Vô Niệm là ngay nơi niệm lìa niệm, nghĩa là đối với cảnh trần, Tâm chẳng nhiễm, trong niệm lìa cảnh, chẳng vì đối cảnh sanh Tâm. Vô Tướng là đối với tướng mà Tâm lìa tướng, lìa được tướng thì Pháp Thể thanh tịnh, đó là lấy Vô Tướng  làm Thể. Vô Trụ là đối với tất cả pháp niệm niệm chẳng trụ , không bị trói buộc, đó là lấy Vô Trụ làm Gốc. Thật ra người thế gian lấy bụng phàm  mà luận Thánh, không hiểu thấu được hai chữ “ Vô Niệm” của Lục Tổ. Tổ nói: “Vô niệm niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành tà”. Vô Niệm hiểu đúng như Tổ nói cũng tức là Chánh Niệm . Đại Thừa Khởi Luận có câu: “Nếu được Vô Niệm gọi là chứng nhập Chân Như”. Kinh Viên Giác cũng có dạy: Lắng lòng Vô Niệm là tùy thuận Viên Giác Tánh”. Khi thấy rõ Bản Tâm tức là giải thoát, là đạt được Bát Nhã Tam Muội tức Vô Niệm. “ Vô Niệm là thấy tất cả Pháp mà Tâm không nhiễm vương, dính níu” . Do đó, Vô Niệm không phải là dứt bặt hết tư tưởng, không nghĩ ngợi gì hết như một số người lầm tưởng mà Vô Niệm tức là Niệm Chân Như. Tổ nói : Chân Như Tự Tánh khởi niệm thì 6 căn tuy có thấy nghe hiểu biết mà chẳng nhiễm muôn cảnh. Nên Kinh nói :Phân biệt được các Pháp mà cái Tánh thanh tịnh Niết Bàn chẳng động . Tổ nói tiếp : “Vô là không hai tướng, không có cái Tâm trần lao. Niệm là niệm Chân Như Bản Tánh, Chân Như là Thể của niệm, niệm là Dụng của Chân Như. Tự Tánh Chân Như khởi niệm, chứ không phải mắt tai mũi lưỡi khởi niệm được. Chân Như có Tánh, cho nên khởi Niệm….Tự Tánh Chân Như khởi niệm, thì 6 căn tuy có thấy nghe hiểu biết mà không nhiễm vạn cảnh, Chân Tánh thường tự tại". 

        Điểm quan trọng là  biết Tâm vốn là vọng là huyễn nên không chấp, chứ không phải chạy theo nó để chống hoặc để diệt. Vì vậy cần hiểu Vô Niệm là đối cảnh mà Tâm không nhiễm, không loạn, chứ không phải là lo diệt bằng cách không khởi suy nghĩ để đạt đến Tâm không- là ngoan không hay vô ký cũng thuộc về Tà niệm, khác với Tâm “Không” là Tâm không nhiễm vạn cảnh khi đối cảnh là Tâm Gốc là Phi Tâm hay Vô Tâm, tức là Tâm mà Phi Tâm hay Tâm mà Vô Tâm : Vô Tâm nơi Sự, vô Sự nơi Tâm. Ở Pháp hội Linh Sơn, Đức Phật giơ Cành Hoa Sen lên, Tổ Ca Diếp nhận ngay “tức thìcái Ánh Rõ Bát Nhã nơi Cành Hoa Sen bởi cái Tâm Không, cái Tâm mà Vô Tâm hay cái Tâm Vô Niệm này. Lúc đó Sáu Căn bất động không khởi niệm, nhưng Tánh Chân Như  khởi “ Vô Niệm” niệm ngộ nhập Bát Nhã . Đối với cái nhìn thông thường của phàm phu trên Cành Hoa Sen lúc Đức Phật khai thị là cái “nhìn rangọn Tâm bằng cái thấy của nhãn thức trên cái hình tượng của Hoa Sen rồi khởi niệm phân biệt , phân tích hình dáng màu sắc đẹp xấu qua Sáu Căn để “nhìn raCành Hoa Sen “thông qua cái Kính Nghiệp của Sáu Căn ”. Trong khi đó Tổ Ca Diếp cũng nhìn Cành Hoa Sen, về hình thức thì cũng giống như nhìn ra ngoại cảnh tức nhìn ra ngọn Tâm. Tuy Sáu Căn có thấy nghe hiểu biết, có phân biệt được các Pháp mà không nhiễm vạn cảnh, tức là Tâm không động (Vô Tâm) và Sáu Căn không khởi niệm (Vô Niệm).

         Chính khi vừa nhìn thấy Cành Hoa Sen mà Sáu Căn không khởi niệm, cái Ánh Rõ Bát Nhã nơi Cành Hoa Sen thâm nhập tràn vào Sáu Căn đang đồng loạt trống rỗng  giống như nước tự tràn vào chỗ trũng rỗng không. Điều này cũng giống như Tổ Ca Diếp tuy hình thức là nhìn ra Cành Hoa Sen nhưng nội dung hay thực chất thì lại là “nhìn vàoSáu Căn của Thân Tâm từ cái Ánh Rõ Bát Nhã nơi Cành Hoa Sen, (tức là nhìn về Gốc Tâm chứ không phải nhìn ra ngọn Tâm thông qua cái thấu kính Nghiệp của Sáu Căn khởi động) và tức thì trong cái sát na ấy Ánh Bát Nhã này tràn ngập cả Thân Tâm làm cho Phật Tánh hiện bày. Thân Tâm với Sáu Căn có Phật Tánh tiềm ẩn giống như Chiếc Máy Truyền Hình nhận sóng vô tuyến phát ra từ Đài Phát Sóng. Đài Phát Sóng ở đây là Ánh Rõ Bát Nhã nơi Cành Hoa Sen phát ra Tần Số Bát Nhã truyền vào Sáu Căn đang mở  cửa trống rỗng không ngăn ngại, không chận bít vì không khởi niệm. Sáu Căn ở đây nhận sóng Bát Nhã từ Cành Hoa Sen tức là “nhìn vào” Thân Tâm, khác với Sáu Căn khởi niệm tức là “nhìn ra” ngoại trần. Tần Số Bát Nhã tức là Chân Như khởi niệm từ Cành Hoa Sen cùng tần số với Chân Như Phật Tánh của Thân Tâm không bị Sáu Căn ngăn ngại hoặc che mờ nên bắt được sóng  với nhau tức là dung thông với nhau làm cho Chân Như Phật Tánh khởi niệm phát lộ hòa nhập với Ánh Rõ Bát Nhã đang trùm khắp Hư Không. Cái niệm Chân Như , hay cái “Vô Niệm” niệm khởi trước từ cái Ánh Rõ Bát Nhã nơi Cành Hoa Sen  chiếu vào Sáu Căn của Thân Tâm mà Thân Tâm trong cái sát na này lại là Vô Thân và Vô Tâm tương ưng với cái “Vô Niệm” niệm làm phát lộ Phật Tánh. Trong cái sát na đó nhất niệm Chân Như Phật Tánh duyên khởi hòa nhập với Bầu Trời Rõ MA HA BÁT NHàlàm MỘT. Chiếc Máy Truyền Hình bắt được sóng Bát Nhã nên hiện ra Tướng Bát Nhã.Thật ra đây không phải là nhìn vào Thân Tâm tức là phản quang tự kỷ còn phải tư duy quán chiếu mất nhiều thời gian, còn ở đây cái khai thị vô ngôn đột biến này của Đức Phật chỉ xảy ra trong một sát na và trong cái sát na đó Tổ Ca Diếp đã ngộ nhập Bát Nhã. Ở đây phải là cái “nhìn tắt” cái “nhìn trực tiếp”, cái nhìn  bằng “trí nhãn” không phải bằng ‘‘thức nhãn’’ thông qua con mắt Nghiệp…tức là cái nhìn : ‘‘Trực chỉ Nhân Tâm kiến Tánh thành Phật’’. Bởi vì lúc đó Tâm của Ngài Ca Diếp chính là Cành Hoa Sen, là Một, là bình đẳng ; Thân của Ngài Ca Diếp cũng chính là Cành Hoa Sen, là Một, là Pháp Thân thanh tịnh. Ngài Ca Diếp nhìn Cành Hoa Sen nhận ngay được Tâm mình, nhận ngay được Thân mình và Tâm này là Tâm mà Phi Tâm tức Vô Tâm ; Thân này là Thân mà Phi Thân tức Vô Thân hay Pháp Thân, tức thì thấy Tánh, tức thì ngộ nhập Bát Nhã. Cành Hoa Sen chính là Bát Nhã, Thân Tâm Ngài Ca Diếp lúc đó là Vô Thân, là Vô Tâm, chính là Bát Nhã. Thiền Sư Huệ Hải chỉ rõ : “ Tất cả chỗ mà Vô Tâm, tức là Vô Niệm ”. Thiền Sư Hoàng Bá cũng khai thị : “Cúng dường mười phương Chư Phật không bằng cúng dường một Đạo Nhân Vô Tâm . Tại sao ? Người Vô Tâm là người Vô tất cả Tâm, chẳng phải tuyệt không. Cái bản thể Như Như,  bên trong như gỗ đá chẳng lay chẳng động, bên ngoài như Hư Không, chẳng nghẽn chẳng ngại, không năng sở, không phương sở, không tướng mạo, không được không mất… Dụ  cho Tâm này, tức cái Tâm của Vô Tâm, lìa tất cả tướng, chúng sanh và Chư Phật  chẳng có khác biệt, hễ được Vô Tâm thì đến cứu cánh…Chứng ngộ được Tâm này có nhanh chậm, có kẻ nghe Pháp trong một niệm liền được Vô Tâm, có kẻ đến thập địa mới được Vô Tâm. Lâu hay mau cũng phải đến Vô Tâm mới xong. Lúc ấy mới biết vô tu, vô chứng, thật vô sở đắc…Tâm tự Vô Tâm. Cũng chẳng có kẻ Vô Tâm, nếu đem Tâm làm cho Vô Tâm thì Tâm lại trở thành có ”.

“Cư trần lạc Đạo thả tùy duyên               (Ở đời vui Đạo, thả tùy duyên,
  Cơ tắc xan hề khốn tắc miên                   Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.
  Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch            Của báu trong nhà, thôi tìm kiếm,
  Đối cảnh Vô Tâm mạc vấn thiền”.          Đối cảnh Vô Tâm, chớ hỏi Thiền!)

     (Vua Trần Nhân Tông - Tổ Sư Thiền Trúc Lâm - VN).

        Vô Niệm của Lục Tổ Huệ Năng nếu chiết tự ra thì ‘‘’’là không khởi niệm nơi sáu căn, còn ‘‘Niệm’’ là Chân Như Tự Tánh khởi niệm. Cái Vô Niệm này có ý nghĩa thâm áo sâu sắc. Nếu hiểu Vô Niệm của Lục Tổ một cách thật đơn giản mà không làm mất đi cái áo nghĩa thâm huyền  thì có thể xem chữ “Niệm” là một ý niệm, một khái niệm, một tri giác đã có, đang có hay sẽ có khi đã, đang hay sẽ tiếp xúc với trần lao. Những tri giác này thông qua Sáu Căn mới có,do căn và trần chạm nhau mới có, tức là thông qua cái Kính Nghiệp của chúng sanh là Vô Minh, tà kiến, điên đảo, chấp dính, phiến diện, thiếu sót …Vô Niệm là hãy bỏ luôn cái niệm Vô Minh của trần lao này đi, thì mới nhận được cái mới của Minh, của Tự Tánh, của Chân Như Bát Nhã. Thí dụ một ly nước chứa đầy nước suối cũ bị hư thì không thể nào chứa được nước suối mới tinh khiết; do đó phải đổ bỏ hết nước suối cũ đi thì mới nhận được nước suối mới, hoặc là phải có cái ly không, không có chứa một vật gì cả thì có thể chứa được vật khác. Một hòn Bọt phải quên đi cái Ngã của mình là Bọt Nước, không còn cả một niệm dù là vi tế về cái Thân Bọt của trần lao, dính với trần lao, nghĩa là phải mất luôn cả cái Thân Bọt của trần lao, ‘‘ly’’ với cái cảnh của trần lao thì mới trở về với “Nước” được và trở thành Biển Cả “Mất để còn, ly để nhập” là cái quan điểm sơ đẳng để hội Đạo. Nghĩa là phải “mất mình”, mất đi cái Ta, cái Ngã của Ta, do Vô Minh chấp thân chấp tướng  nên thấy Ta là người, Ta là Phật, Ta là phàm, là thánh, là ngạ quỷ súc sanh, là cây cỏ, là sự vật , là đất nước gió lửa…mất rồi thì còn lại khoảng trống tức thì Chân Như Tự Tánh khởi niệm lắp đầy Sáu Căn, tức là  trở về cái Vô Niệm thâm áo của Lục Tổ Huệ Năng, tương đồng với cái Vô Tâm : Tâm của Vô Tâm , Phi Tâm : Tâm của Phi Tâm, trở về với Chân Như Bát Nhã ngộ nhập với cái Không Rỗng Suốt của Tự Tánh, kiến Tánh thành Phật.

        Còn chữ  “Niệm” trong Chánh Niệm là cái năng lượng của Tâm thông qua 6 căn : đi đứng nằm ngồi nghe nhìn hoạt động suy nghĩ làm việc … Người học Đạo phải biết nuôi dưỡng cái năng lượng của Chánh Niệm và luôn luôn sống với cái năng lượng nầy khi 6 căn ứng xử với 6 trần giống như vị Tướng giữ thành có 6 cửa : 

 “Học đạo nhu như thủ cấm thành                     (Học đạo ví như giữ cấm thành

   Trú phòng lục tặc dạ tinh tinh                 Ngày ngừa lục tặc, tối tinh tinh

   Trung quân chúa tướng năng hành lệnh      Trong quân chúa tướng hay hành lệnh

   Bất động can qua trị thái bình”.                      Chẳng động gươm đao trị thái bình).

                                             (Thiền Sư Diệu Phổ).

        Một vị tướng giỏi lúc nào cũng tỉnh thức sáng suốt (dạ tinh tinh) tức là luôn giữ Chánh Niệm để canh chừng lục tặc (sắc, thanh, hương, vị , xúc, pháp) ở 6 cửa thành tức lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Trong quân vị chủ tướng thi hành lệnh nghiêm ngặt, tức giữ Chánh Niệm triệt để không suy chuyển, nên biết rõ ràng địch( vọng tưởng) đang xuất hiện ở cửa thành nào (tức căn nào : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hay là ý…) có bao nhiêu địch quân (tham, sân , si, mạn, nghi, tật, đố…) và đề phòng vững chắc nên địch không dám hoành hành đánh phá, tự động lui quân biến mất mà không cần phải động binh. Như vậy có tỉnh thức sáng suốt, giữ vững Chánh Niệm, biết (Chăn Trâu) thì biết rõ vọng tưởng tự sinh ra rồi tự diệt đi vì chúng là vô thường, giả tạo, không có thật. Do đó không cần phải tác ý, không cần phải hành trì hay chạy theo rượt đuổi để tiêu diệt chúng, mà chỉ cần tri vọng tức biết vọng  là đủ. Đây là một cách giữ Chánh Niệm trong sự tỉnh thức của Thiền Sư Diệu Phổ dạy cách Chăn Trâu một cách nghiêm túc. Còn Tuệ Trung Thượng Sĩ, cũng dạy Chăn Trâu nhưng nhẹ nhàng hơn : thả lỏng 6 căn, không khởi niệm, không niệm Phật cũng chẳng cầu Thiền, Tâm vọng tự sinh thì tự diệt, miễn là sáu căn không chủ động chạy theo cảnh. Cách Chăn Trâu này dành cho những hành giả đã có Tâm bình an hay đã có kinh nghiệm sâu dầy : vượt hơn Chánh Niệm, không khởi Niệm, hướng về cái Vô Niệm của Tổ Huệ Năng, hay cái Vô Tâm của Thiền Sư Hoàng Bá :  

  “Đường trung đoan tọa tịch vô nghiên,         (Giữa nhà không nói, chỉ ngồi yên,

   Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên.                Nhàn ngắm Côn Luân sợi khói lên.

   Tự thị quyện thời Tâm tự tức,                      Lúc mệt mỏi rồi Tâm tự tắt,

   Bất quan nhiếp niệm, bất quan Thiền”       Cần chi niệm Phật với cầu Thiền).

                                                (Tuệ Trung Thượng Sĩ).

        Giữ Chánh Niệm trong mọi thời, mọi lúc, tức là giữ cho thân tâm an lạc, cũng là biết cách Chăn Trâu giữ cho thân, khẩu, ý được thanh tịnh, biết cách giữ thành như một vị tướng giỏi giữ 6 căn không dính mắc với 6 trần để đạt tới  bước cao hơn là : Chánh Định hay Vô Niệm , Vô Tâm …. Tuy nhiên cột niệm, buộc niệm chết cứng một chỗ mà không tiêu hóa được niệm thì lại có hại cho thân tâm, vì trong Tâm có Vật có hại cho sự phát triển trí tuệ và sự giải thoát. Trong nhà Thiền gặp lúc cái sát na đột biến dù là Chánh Niệm cũng phải bỏ, tức là phải biết “ Buông Niệm ” để đạt đến Vô Niệm hay Vô Tâm ngộ nhập Chân Như Bát Nhã. Bởi vì dù là Chánh Niệm, nhưng cũng từ 6 căn khởi niệm, mà 6 căn thì điên đảo, còn ở trong Nghiệp Thức. Chánh Niệm dù là niệm đầu, niệm giữa hay niệm cuối thì vẫn còn ở trong Nghiệp do 6 căn khởi niệm, không phải là Chân Như khởi niệm nên chưa đạt đến Chân Như. Khi Lục Tổ Huệ Năng khai thị cho Huệ Minh lúc rượt theo Tổ để giành lại y bát. Tổ nói : “Không nghĩ thiện (tức là buông Chánh Niệm), không nghĩ ác (tức bỏ cả Tà Niệm) cái gì là Bản Lai Diện Mục của Thượng Tọa Minh ? ”. Chính nhờ buông cả Chánh Niệm lẫn Tà Niệm, đạt tới Vô Niệm mà Huệ Minh đã Đại Ngộ nơi đây. 

        Như vậy, Chánh Niệm chỉ là bước khởi đầu còn cách Vô Niệm một khoảng cách rất xa, vì một bên là Sáu Căn khởi niệm còn một bên là Chân Như Phật Tánh khởi niệm. Nếu chỉ dừng lại ở Chánh Niệm, tuy Thân Tâm có an lạc, nhưng không thể đạt đến sự Chứng Ngộ tâm linh như Chư Phật và Thiền Sư. Vì thật ra cả ba cái Tâm: Tâm quá khứ, Tâm vị lai và Tâm hiện tại đều không có. Nếu thấy cái Tâm hiện tại còn là Tâm và muốn cho Tâm an lạc hạnh phúc thì đây chỉ là cái Tâm Mê của thế gian và sự hạnh phúc an lạc đó chỉ là tạm thời giống như liều thuốc ngủ hay thuốc an thần của các Nhà Tâm Lý Học, một khi hết thuốc hay Vô Minh và Chướng Nghiệp đến thì Tâm này không còn an lạc nữa! Phật Pháp không phải để chuyên trị cái bệnh “Bất An”  (hay Stress) của Tâm Lý Học thế gian đem lại hạnh phúc cá nhân gia đình và xã hội, điều này đã có các nhà Tâm Lý và các Tôn Giáo làm rồi và đây chỉ là cái “Tiểu An”. Đức Phật từng nói :  “Nước biển có vị mặn, Đạo Ta chỉ có một vị duy nhất là Giải Thoát”. Đây mới là cái Đại An mà Đức Phật trị liệu cho Chúng Sanh thoát khỏi cái Đại Bệnh  “Sinh Tử Luân Hồi” mà người thế gian không làm được. Do đó hành trì Chánh Niệm chưa phải là cái Rốt Ráo để đạt Đạo Giải Thoát mà chỉ là Bước Đầu còn phải vượt xa hơn.

        Bài kệ “Thủ Nê Ngưu” của Tuệ Trung Thượng Sĩ : Thầy dạy Đạo của Vua Trần Nhân Tông (Tổ Sư Thiền Trúc Lâm – Việt Nam) chỉ rõ điều này :   

   “Một mình giữ một con Trâu Đất

     Xỏ mũi đem về chẳng ngớt chăn

     Đem đến Tào Khê mà thả quách

     Phăng phăng nước cuộn trái cầu lăn”.   

        Nghĩa là dù giữ Chánh Niệm triệt để, biết cách chăn Con Trâu Đất (tức là Tâm và Thân Tứ Đại), nhưng tốt nhất là đem Con Trâu Đất ấy thả trên đất Tào Khê thì mới an toàn và xong chuyện, không còn phải lo lắng gì nữa, tức là sẽ được cái Đại An của sự Giải Thoát : “Đem đến Tào Khê mà thả quách”. Đất Tào Khê là nơi Lục Tổ Huệ  Năng hành Đạo, và Đạo của Ngài lấy Bảo Đàn Kinh với Pháp Vô Niệm làm căn bản. Chủ ý của Ngài Tuệ Trung là phải vượt khỏi Chánh Niệm để đạt đến cái “Vô Niệm” của Tổ Huệ Năng thì đạt đến cái Rốt Ráo và an nhiên tự tại : “Phăng phăng nước cuộn trái cầu lăn”. Do đó nếu chỉ biết hành trì Chánh Niệm và dừng lại nơi đây thì chỉ mới đi có bước đầu, tuy có thể giúp cho người thế gian được an Tâm tạm thời (đạt được cái Tiểu An), nhưng đối với Đạo Giải Thoát thì cần phải tiến xa hơn. Mặc khác, một khi cột niệm nơi Tâm để làm cho Tâm an hay để trừ vọng tưởng phiền não mà cho là thực tập Chánh Niệm thì vô tình “để Sự nơi Tâm để Tâm nơi Sự” là một chướng ngại cho Trí Tuệ và sự Giải Thoát. Do đó dù là Chánh Niệm cũng phải biết Buông Niệm hay tiêu hóa Niệm: ngay nơi Niệm mà lìa Niệm, không phải Sáu Căn khởi niệm và rồi cột Niệm nơi Sáu Căn, mà phải “vô” Niệm nơi Sáu Căn và “hữu” Niệm nơi Chân Như Phật Tánh (tức Chân Như Phật Tánh khởi Niệm) chính là VÔ NIỆM đồng nhất với VÔ TÂM, tức là cái TÂM mà PHI TÂM. Đây là cái Rốt Ráo vượt khỏi Chánh Niệm đạt tới cái Vô Niệm của Lục Tổ Huệ Năng.

        Pháp Vô Niệm của Tổ Huệ Năng tuy bị thế gian bài xích xưa nay, nhưng thực tế đem lại lợi ích cho vô số người ngộ Đạo, làm cho Thiền  Tông Trung Hoa lần đầu tiên rẽ hướng đi khác với Thiền Tông Ấn Độ( tùy duyên bất biến) và rực sáng trên bầu trời Trung Hoa từ Hoa Nam rồi lan nhanh ra Hoa Bắc( làm cho pháp Tiệm Ngộ của Ngài Thần Tú bị lu mờ ). Chính Đại sư Thần Tú tự than và khuyên đệ tử :

        - Ngài Huệ Năng được Vô sư Trí, thâm nhập Tối thượng thừa, ta thật không sánh bằng. Huống chi Thầy ta là Ngũ Tổ đã đích thân truyền y pháp cho Ngài, đâu phải vô cớ mà truyền. Ta bận không thể đi xa thân cận Ngài, ngồi đây mà luống thọ ân vua (Võ Tắc Thiên).  Các ngươi đừng nên lưu luyến ở đây, hãy đến Tào Khê tham bái mà giải quyết (những nghi ngờ về Phật pháp).

        Một ngày kia, Đại sư Thần Tú gọi môn đệ là Chí Thành, bảo:

        - Ông thông minh nhiều trí, hãy vì tôi đến Tào Khê nghe pháp, nghe điều gì thì nhớ kỹ về thuật lại cho tôi.

        Sau này, Thần Hội đệ tử xuất sắc của Tổ Huệ Năng ra Hoa Bắc, bị nhiều người gièm xiểm, hãm hại, tố cáo với nhà Vua. Nhưng pháp Tiệm Ngộ của Đại Sư Thần Tú bị lu mờ dần ở Hoa Bắc nhường chỗ cho pháp Đốn Ngộ của Lục Tổ Huệ Năng. Sau Tổ Huệ Năng có biết bao nhiêu Thiền Sư ngoại hạng ra đời thay thế Phật độ sinh. 

        Dù cho chúng sanh lăng xăng chạy theo Pháp trần, thích hình tượng bên ngoài, thích Chùa to, Phật lớn, Phật vàng, Phật ngọc….mà quên đi việc rèn Tâm luyện Trí như Thiền Sư Lạc Phố đã cảnh giác:  

“Nhất phiến bạch vân hoành cốt khẩu ,       (Một áng mây trắng che cửa hang

  Kỷ đa qui điểu tận mây sào”                    Bầy chim bay về  đều quên tổ).  

        Hình tượng cái chùa to tráng lệ và Ông Phật to bằng vàng, bằng ngọc ở trong chùa sẽ là áng mây trắng che mất cửa hang….( tức là hang Tâm của chính mình) nên bầy chim bay về đều quên tổ ( tức là quên đi tức Tâm mình là Phật) mà chỉ thấy cái tượng chùa to và cái tượng Ông Phật to bằng vàng, bằng ngọc ở trong chùa rồi cầu xin lạy lục Ông Phật trong chùa đó cho mình được nhiều phước và được về Tây Phương Cực Lạc. Khi đó Ngài Huyền Giác nói:  

“Cầu Phật thi công tảo vãn thành”  (Ra công cầu Phật mấy thuở thành?). 

        Dù cho thế thời điên đảo, chúng sanh mê muội, Phật pháp suy đồi, chùa chiền biến chất như trong thời đại Ngài Huyền Giác nhưng nếu giữ được “ Ngọn Đèn Tâm” mà Đức Phật đã trao truyền trực tiếp cho Tổ Ca Diếp đầu tiên, qua 28 đời ở Tây Thiên cho đến Tổ Bồ Đề Mạt Đa rồi vào Trung Quốc với 6 đời truyền y bát cho tới Lục Tổ Huệ Năng được thiên hạ nghe theo thì người sau vẫn đắc Đạo nhiều vô số:   

 “Lục đại truyền y thiên hạ văn,

   Hậu nhân đắc đạo hà cùng số.(ThS. Huyền Giác).

        Rất may, ngọn đèn Tâm đó vẫn còn cháy sáng, Chư Tổ và Thiền Sư vẫn giữ nó trong tấm bản đồ “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” để chúng sanh tự mồi lửa Tâm mình với Tâm Phật hòa làm một sáng lên trí Bát Nhã và ngộ nhập Bát Nhã. Tấm bản đồ này cũng là Bài Kinh Vô Tự Vô Ngôn vô cùng vi diệu và nhiệm mầu là nguyên cả Bầu Trời Rõ Chân Không vô tận cũng là Ánh Bát Nhã tràn ngập Đạo Lý. Các Ngài với lòng từ bi vô hạn còn chỉ rõ cả cửa vào. Đức Phật thì chỉ cánh cửa RÕ: “ Niêm Hoa Vi Tiếu”; Tổ Long Thọ chỉ 3 cửa: “ Vô, Vô Tướng, Vô Tác”; Bồ Đề Đạt Ma chỉ tới 6 cửa: “Thiếu Thất Lục Môn”; Lục Tổ Huệ Năng chỉ cái “Cửa Vô Niệm”, Thiền Sư Sư Bị thì chỉ  “Cánh cửa Ca Diếp”; Triệu Châu lại chỉ cửa “Không”. Huệ Khai thì chỉ cánh cửa  “Vô”; Huyền Giác lại chỉ cửa “Vô Vi”….Dù bao nhiêu cửa cũng chỉ là Một Cửa, tất cả cửa đều không khác, qua được một cửa là đã vào “Căn Nhà Xưa”: Căn nhà: “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”.  

        Cái căn nhà : “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa bất khả tư nghì, vi diệu và rốt ráo này, Tổ và Thiền Sư thường khai thị ngắn gọn chỉ trong một chữ “NHƯ”, “VÔ” hay là “KHÔNG”. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, một câu ngắn gọn: “Sắc tức thị Không” nói lên cái áo nghĩa thâm sâu, siêu huyền cực lý và cũng là cái Chân Lý Vũ Trụ tuyệt vời. Thật vậy chỉ một câu: “Sắc tức thị Không” của Đức Phật, người nào đã am hiểu rõ ràng tận gốc tận cùng, tuy nhiên đây chỉ là đạt trên Lý, Sự thì vẫn còn ngăn ngại, có thể đặt làm “công án” Thiền, quán chiếu cái KHÔNG cho đến lúc bất chợt ngộ nhập vào KHÔNG, hoặc nhìn vào Hư Không với cái ‘‘cánh cửa Rõ Vô Vi’’ và có cái ‘‘Tâm tương ưng’’ thuần đức thì “có thể” đạt Đạo vô sanh, an trú nơi cái Không hay Niết Bàn thường lạc ngã tịnh. Nghĩ đến điều này, quả thực Đức Phật phải có cái Trí Tuệ siêu việt (Trí Bát Nhã) và lòng từ bi vô hạn, muốn độ hết thảy chúng sanh thoát khỏi luân hồi , nên đã trao Tấm Bản Đồ Bát Nhã vi diệu này, chỉ rõ ràng, tuy về hình thức thì thấy dường như Đức Phật giấu giếm nhiều “Mật nghĩa u thâm”, nhưng đối với những ai chịu khó tư duy quán chiếu thật sâu sắc thì sẽ thấy rõ và thấu hiểu được cái Lý Như Như hay cái Lý Sắc Không vi diệu của vũ trụ. Như đã luận giải ở phần trên, nhờ những phát minh Khoa Học đã chứng minh nhiều lời nói của Đức Phật là chính xác, chẳng hạn như: trong ly nước có vi trùng, vật chất không có tự tánh mà là do duyên hợp… Còn nhiều điều bí mật như cái Lý: “Sắc Không” mà Khoa Học ngày nay chưa giải lý nổi. Thật ra vì các nhà Khoa Học cứ nghiên cứu cái Bóng Trăng cho nên không bao giờ nhìn thấy được Mặt Trăng thật hay Chân Lý. Bởi vì các Nhà Khoa Học chỉ nghiên cứu trên cái Tướng của Sự Vật mà không nghiên cứu trên cái Vô Tướng hay cái Vô Vi mà Thiền Sư Huyền Giác đã khai thị:

“Tuyệt học Vô Vi nhàn Đạo nhân”.

        Đối với vũ trụ, các Nhà Bác Học Không Gian đã khám phá ra nguyên thủy của vũ trụ là một Dị Điểm Big Bang (singular point) vô cùng nhỏ với đường kính D = 10-33 centimet , nổ ra cách đây 15 tỷ năm ở thời điểm Planck (T = 10-43 giây), và họ cho đây là cái tột cùng nguồn gốc vũ trụ! Nói theo Phật Pháp thì đây là chỉ mới khám phá ra cái Dụng và còn ở trên Sự Tướng, tức là chỉ quan sát trên cái Bóng Trăng mà chưa nhận ra cái phần Thể, tức là cái Vô Tướng trên Sự Vật hay là Mặt Trăng thật. Nói theo Thiền Sư Cảnh Sầm thì chưa nhảy qua khỏi “đầu sào trăm trượng” mà cũng chưa đi hết “trăm trượng đầu sào”. Còn nói theo Ngài Huyền Giác là chưa đạt tới cái “Vô Vi” mà cũng chưa đến được “cửa Vô Vi” cho nên chưa thấy được Chân Lý tối thượng. Phải đi hết “trăm trượng đầu sào” và phải huốt khỏi “đầu sào trăm trượng”, huốt khỏi sự vật, ở đây là phải huốt khỏi cái máy động, cái hình tướng, cái sự vật của Dị Điểm Big Bang, tức là cái “Tuyệt Cùng” ngay trên Dị Điểm Big Bang: là cái “cửa Vô Vi”, “đột phá” ngay “cửa Vô Vi” để nhập vào “Vô Vi”, chính là cái “Không”, cái Hư Không - Rỗng Rang - Emptiness ở thời điểm T0 = 0 giây. Cái “Không” này là nguồn gốc, là Mẹ Đẻ ra vũ trụ với hàng trăm tỷ Thiên Hà: “Không tức thị Sắc”. Cái “Không” này cũng gọi là Tánh hay Bát Nhã, còn cái Dị Điểm Big Bang là một điểm của Tâm hay một niệm Vô Minh ảo hóa duyên khởi trùng trùng sinh ra vũ trụ! 

        Còn đối với vật chất, sơn hà, đại địa trong vũ trụ, nếu chia chẻ phân tích vật chất này để xem cái “Cốt Tủy” bên trong, cái Tướng Thật hay cái Tự Tánh của nó là gì? Nếu chia cắt như vậy cho đến cái cực nhỏ thì ta được một Phân Tử vật chất (molecule). Rồi bên trong Phân Tử tiếp tục chia chẻ phân tích thì thấy Phân Tử gồm nhiều nguyên tử (atoms) kết hợp lại. Thí dụ như Phân Tử Đường saccharic (sugar) với công thức hóa học là C12H22O11 gồm 12 nguyên tử Carbon (C) kết hợp với 22 nguyên tử Hydrogen (H) và 11 nguyên tử Oxygen (O). Tiếp tục chia chẻ phân tích bên trong mỗi nguyên tử thì thấy hàng trăm hạt vi tế bên trong nhân nguyên tử như protons, neutrons, neutrinos…và các hạt electrons quay chung quanh nhân. Tiếp tục chia chẻ phân tích bên trong những hạt này thì thấy các hạt quarks, thí dụ một hạt electron gồm 3 hạt quarks (2downs+1up) kết hợp lại. Cuối cùng  phân tích bên trong mỗi hạt quark thì thấy  sóng gamma  (γ) photon vi tế năng lượng cao. Sóng gamma photon là năng lượng, là đầu mối tạo ra vật chất có khối lượng với công thức biến đổi năng lượng thành khối lượng tạo ra vật chất của Nhà Bác Học Einstein là : E = MC2, trong đó E (energy) là năng lượng, M (mass) là khối lượng vật chất và C (velocity) là vận tốc sóng - hạt photon ánh sáng. Sóng gamma photon này ở thể “Động” thì là năng lượng và có cái Tướng “Sóng”, nhưng lúc nghỉ hay ở trạng thái “Tĩnh” thì khối lượng nghỉ là M = 0 và khi đó năng lượng nghỉ cũng mất : E0 = 0.

                                          E0 = MC2 = (0)(300.000)2 = 0.

        Như vậy ở trạng thái “Động” thì là Sóng có năng lượng và năng lượng này biến thành khối lượng vật chất tức là Sắc; ở trạng thái “Tĩnh” thì cái Tướng “Sóng” mất, khối lượng và năng lượng cũng mất, tức là cái SẮC mất và trở về KHÔNG. Như vậy Vật Chất chỉ “hiện hữu” khi ở trạng thái “Động”, còn ở trạng thái “Tĩnh” thì  “biến mất” nhập vào Không. Do đó Vật Chất “không có thật và cũng không có Tự Tánh, tức là Tánh Không. Vật chất chỉ là ảo hóa hay là cái Bóng của cái KHÔNG : giống như Biển động thì Nước nổi lên thành Sóng; Biển yên lặng thì Sóng mất trở thành Nước. Rốt ráo lại giống như Biển Nước, khi ở trạng thái Động (TÁC) do Vô Minh hay Nghiệp Lực tác động, thì từ cái KHÔNG với cái năng lượng “Động” hiện ra cái Tướng Sóng vi tế, rồi năng lượng Sóng này chuyển thành vật chất có khối lượng, là cái SẮC. Khi ở trạng thái “Tĩnh” (VÔ TÁC) thì Sóng vi tế mất thì vật chất mất, vật chất là SẮC, tức là SẮC trở về KHÔNG: “Sắc tức thị Không”. Sóng này tùy duyên mà biến hoá ra vô số thể trạng khác nhau tùy theo biên độ (amplitude), độ dài sóng (wave-length) tần số (frequency), chu kỳ (period), hằng số pha ( phase constant)…là cái Diệu Hữu. Thí dụ một phương trình Sóng thật đơn giản:  y = ymsin(ωt+ф). (ym= biên độ, ω (omega) = tần số, t = thời gian, ф (phi) = pha sóng) có dạng Sóng hình Sin và chu kỳ Sóng là T=2π/ω. Mỗi chu kỳ T là một niệm; có vô lượng hình tướng Sóng, truyền đi với vô lượng chu kỳ hay là vô lượng niệm mà tạo tác ra cái Sắc. Ngoài việc chuyển từ năng lượng thành khối lượng vật chất, Sóng còn có thể hiện ra những tướng khác như : âm thanh, màu sắc, hình ảnh, động năng, cơ năng, nhiệt năng, hóa năng, điện năng, quang năng, nguyên tử năng…cho tới cái thấy nghe hiểu biết…cả đến cái Thân Tâm Người và Thân Tâm Vũ Trụ ! Cái tướng Sóng sau một chu kỳ T hay một niệm, là một “Vi Sóng” tương ưng với một “Vi Sắc”. Niệm niệm trùng trùng duyên khởi với vô lượng “Vi Sóng” tương ưng với vô lượng “Vi Sắc”,  sinh ra Càn Khôn Vũ Trụ và sum la vạn tượng đầy ắp trong Hư Không. Tận đầu nguồn Sóng là Phi Sóng, là cái cửa Vô Vi, tương ưng với tận đầu nguồn Sắc là Phi Sắc cũng tương ưng với tận đầu nguồn Tâm là Phi Tâm. Vì Sóng là cái Tướng vi tế của Tâm… là một. Sóng nổi lên là Tâm động, Sóng mất là Tâm tĩnh lặng bắt đầu chiếu soi là chiếc Gương Tâm, giống như Sóng mất trở về Nước và Mặt Nước lặng yên như Gương bắt đầu chiếu soi. Ba ngàn thế giới hiện Bóng trong chiếc Gương này. Như vậy Càn Khôn Vũ Trụ chỉ là cái Bóng của chiếc Gương Tâm và Gương Tâm là Ánh Rõ hay Ánh Sáng của Tánh, của Bát Nhã hay Viên Ngọc Ma Ni. Rốt ráo, Tâm động nổi Sóng thành Sắc với ba ngàn thế giới, Tâm tĩnh Sóng mất, Sắc trở về Không…Đối với người ngộ đạo với cái Tâm Vô, đạt đến Vô Vi, thấy Sắc tức Không, đâu đâu cũng là Bát Nhã, Niết Bàn hay Pháp Thân thanh tịnh bình đẳng hòa chung với Hoa Tạng Pháp Giới làm một…

         Nói cho cùng thì Vật Chất từ hạt Nguyên Tử cho đến Vũ Trụ bao la đều do Tâm làm ra và Tâm là một nhà ảo thuật đại tài hiển ra cái Sắc, biến hóa một cách vi diệu (Diệu Hữu) từ Gốc Tâm cho đến Ngọn Tâm đủ thứ hình thù, màu sắc, âm thanh, sơn hà, đại địa, cây cỏ và muôn loài chúng sanh…cho nên Kinh nói: “nhất thiết duy Tâm tạo”. Tâm cũng là Sắc là cái Dụng của Tánh, của Bát Nhã hay cái KHÔNG. Nhưng tột cùng thì Tâm và Sắc cũng chẳng có, chỉ là cái Bóng của Tánh hay của cái KHÔNG. Người thế gian không ngờ rằng cái Sắc tức Vật Chất: từ hạt Nguyên Tử cho tới Vũ Trụ “không thật có” mà chỉ là cái “Bóng” của cái KHÔNG hay Bát Nhã! Và khi Khoa Học phân tích nghiên cứu đến cái tận cùng nguồn gốc sinh ra Vũ Trụ là cái Dị Điểm Big Bang vô cùng nhỏ ở thời điểm Planck T = 10-43 giây; nhưng ở thời điểm T= 0 giây là giao điểm giữa cái Dị Điểm Big Bang và cái KHÔNG, vừa huốt cái Sắc, cái năng lượng, cái máy động, chính là cái ‘‘cửa Vô Vi’’, ngay đó liền đụng tới cái KHÔNG là Bản Thể của cái SẮC, là cái Rốt Ráo mà Khoa Học lại bỏ qua! Khoa Học cũng nghiên cứu phân tích trên cái SẮC tức Vật Chất thì thấy cái tận cùng của Vật Chất là Sóng vi tế ở trạng thái “Động”, nhưng ở trạng thái “Tĩnh” thì Sóng mất, năng lượng hay khối lượng cũng mất (M=E=0), vừa huốt cái Tướng Sóng vi tế, cái năng lượng, khối lượng, vừa huốt cái “máy động” (Tác) của Sóng là trạng thái “Tĩnh”, tức là cái “cửa Vô Vi”, thì cũng đụng tới cái KHÔNG và chính cái KHÔNG này là Bản Thể hiển ra cái SẮC hay Vật Chất, tức là cái Dụng nhưng Khoa Học cũng lại bỏ qua, chỉ chấp Dụng mà bỏ Thể, chấp cái Bóng Trăng mà bỏ qua Mặt Trăng thật! Nếu Khoa Học phân tích hình tướng Sự Vật từ nguyên tử vật chất cho tới nguồn gốc vũ trụ tới tận đầu nguồn, không  dừng lại ở trạng thái “Động” của Sóng vật chất vi tế mà tiến tới trạng thái “Tĩnh”, không dừng lại ở thời điểm Planck T = 10-43 giây mà tiến tới thời điểm T=0 giây thì sẽ đụng tới cái KHÔNG : Cái KHÔNG này vừa giải thích rằng Vật Chất và Vũ Trụ “không thật có”, vừa giải thích Vật Chất và Vũ Trụ từ cái KHÔNG mà ra và cái KHÔNG này không phải là không ngơ hay “ngoan không” vô tích sự mà là cái KHÔNG vi diệu là Chân Lý tột cùng!

         Khoa Học dùng thí nghiệm nhưng chưa đi huốt con đường Tâm hay Sắc cho nên chưa thấy được cái tột cùng của Chân Lý. Trong khi Chư Phật, Tổ và Thiền Sư “nhảy qua khỏi đầu sào trăm trượng” hay đạt tới “cái cửa Vô Vi” và ngay đó nhảy thẳng vào Tánh là cái KHÔNG rốt ráo nên đạt tới Chân Lý tuyệt đối. Chẳng hạn như cái thấy của Tổ Long Thọ: “Thành Niết Bàn có ba cửa: Vô, Vô Tướng, Vô Tác” là cái thấy tận cùng của Chân Lý. Bởi vì cái KHÔNG rốt ráo, tức là Bát Nhã, Chân Như, Thật Tướng hay Niết Bàn thì không có một vật (VÔ), không có hình tướng Sắc hay là Tâm (Vô Tướng) và trong sáng thường chiếu thường soi tĩnh tịch lẳng lặng và bất động như Gương (Vô Tác). Khoa Học nhảy không qua cái cửa này, còn thiếu một bước là “đầu sào trăm trượng” và cái “cửa Vô Vi” của Thiền Sư. Khoa Học biết được cái nguồn gốc Vũ Trụ là một Dị Điểm Big Bang (tức là một điểm của Tâm và Sắc) ở thời điểm Planck, nhảy qua khỏi cái thời điểm này tức là T=0 giây cho đến T = -1 giây thì đã lọt vào cái  KHÔNG hay cái “thành Niết Bàn” (Vô, Vô Tướng, Vô Tác) của Tổ Long Thọ. Khoa Học cũng đã phân tích thấy được cái căn bản tột cùng của Vật Chất là Sóng vi tế năng lượng cao ở trạng thái “Động”, còn ở trạng thái “Tĩnh” thì Sóng mất và khối lượng vật chất cũng mất: M=0. Khoa Học cũng không nhảy qua khỏi cái Cửa này vì còn chấp cái “Tướng Sóng” và cái “Tướng Động” của Sóng Vật Chất. Nếu thêm một bước nữa là đã tới cái cửa Vô Vi tức là chỗ không còn “máy động” (trạng thái Tĩnh) không còn hình tướng (không còn cái Tướng Sóng) thì tìm thấy cái căn nguyên rốt ráo của Vật Chất chính là cái KHÔNG trở về ba cái cửa Vô, Vô Tướng, Vô Tác của Tổ Long Thọ. 

 Chư Phật, Tổ và Thiền Sư  nhìn Sự Vật bằng Tâm với ngũ nhãn, còn Người Thế Gian thì nhìn bằng Lục Căn qua cái “Thấu Kính Nghiệp”, bị “khúc xạ” theo Nghiệp Tướng, bị dao động và điên đảo…. Tâm này là Tâm “không” bất động như Mặt Nước lặng yên, như chiếc Gương trong không có ngấn bụi soi sáng cả ba ngàn thế giới. Đó là cái Tâm “Vô Niệm” của Lục Tổ Huệ Năng, cái Tâm “Vô Vi” của Thiền Sư Huyền Giác, cái Tâm “Vô Tâm” của Thiền Sư Hoàng Bá, cái Tâm “Vô” của Thiền Sư Đức Sơn, hay cái Tâm “Vô, Vô Tướng,Vô Tác” của Tổ Long Thọ…

 “ Nhất niệm bất sinh toàn thể hiện,       (Một niệm chẳng sinh, toàn thể hiện,

    Lục căn tài động bị vân già”.               Lục căn vừa động bị che lòa).

                                       (Trương Chuyết)

        Cái “Bí Quyết” ở đây là “Tĩnh”, tức “không Động”, không khởi niệm thì Chân Lý hay Sự Thật hiển bày đạt tới cái KHÔNG : “Nhất niệm bất sinh toàn thể hiện”. Niệm ở đây là sáu căn khởi niệm. Một niệm của sáu căn vừa khởi lên, hay vừa “Động” thì Vô Minh hay Nghiệp Lực liền đến che mờ cái Chân Như Tự Tánh : “Lục căn tài động bị vân già”. Vật Chất cũng vậy, khi Sóng Vật Chất khởi lên một niệm, tức là một chu kỳ T thì liền ngay đó có cái Tướng Sóng sinh ra SẮC tạo ra cái Tướng của Thế Gian “Mê”. Do đó, “Tĩnh” thì trở về cái Tự Nhiên, cái Như Nhiên, cái Như Như, hay cái Như (Pháp nhĩ như thị) và rốt ráo là cái KHÔNG trùm khắp và bình đẳng. Một điều lạ là tuy Tĩnh lặng, không động, vô niệm, vô trụ, vô Tâm…nhưng vô niệm nơi sáu căn mà Chân Như Tự Tánh khởi niệm Bát Nhã lộ toàn thân, vô Tâm mà Đại Tâm Đại Ứng trùm Pháp Giới, vô trụ mà “Ứng vô sở trụ như sanh Kỳ Tâm”!... Còn “Động” thì cái Như Như ấy bị Vô Minh, Nghiệp Lực hay cái “Tướng Động” che mờ sinh ra cái Bóng Sắc Trần với cái Tướng phân biệt của Sắc mà sinh ra Ngã Chấp có Năng Chấp Sở Chấp, điên đảo trong cái Mê, mất đi cái Tính Chơn Nhất của Đại Đạo.

        Cũng như một Hòn Bọt “tự mất mình”, không còn chấp cái “Ngã Bọt” mà trở về với Nước (Vô), không còn cái “Tướng Bọt” mà hòa chung với Biển Cả bao la (Vô Tướng), không còn cái “Tướng Động” lắc lư điên đảo mà trở về với Biển Nước lặng yên như Gương (Vô Tác), soi thấu suốt Bầu Trời trong vô tận. Mặt Nước nếu “Động” nổi lên ngàn Sóng, thì không thể soi thấu Bầu Trời trong. Tâm “Động” cũng vậy, Sóng Vô Minh hay Sóng Nghiệp nổi lên sắc tướng Thế Gian mê. Tâm “Tĩnh” đạt đến Tâm không : “Vô, Vô Tướng, Vô Tác” thì Thế Gian mê tan hoại, Bát Nhã Niết Bàn lộ nguyên hình.

         Bên ngoài thấy Sắc chạy theo Sắc là “Động”, bên trong “Vô Niệm” thấy được Tự Tánh là “Tĩnh”. Chỉ cần thấy được Tự Tánh là xong hết mọi việc, thấy được Tự Tánh là có đủ Tam Thân, Tứ Trí, hoàn tất tám cửa giải thoát, sáu cửa lục thông, là “thân chứng” những diệu dụng của Tâm như Thiền Sư Huyền Giác chỉ rõ: 

“Tam thân, tứ trí thể trung viên         (Ba thân bốn trí thể tròn nguyên

  Bát giải, lục thông Tâm địa ấn”.        Tám giải, sáu thông Tâm ấn hiệp). 

        Rốt ráo của Thanh Tịnh là “Tĩnh” tức Bồ Đề, Tổ Đạt Ma nói: 

“Thanh tịnh tự phân ly              (Thanh tịnh tự phân ly

  Tứ Trí ba vô tận                        Bốn Trí cuồn cuộn sóng

  Bát Thức hữu thần uy              Tám Thức lộ thần uy

  Tâm đăng minh Pháp Giới        Đèn Tâm soi Pháp Giới

  Tức thử thị Bồ Đề”.                  Đó tức là Bồ Đề).

       Nói về Tam Thân Tứ Trí  một khi “chứng” được Tự Tánh, Lục Tổ Huệ  Năng  giải thích :

“Tự Tánh cụ tam thân

  Phát minh thành tứ trí

  Bất ly kiến văn duyên

  Siêu nhiên đăng Phật địa

  Ngô kim vị nhữ thuyết

  Đế tín vĩnh vô mê

  Mạc học trì cầu giả

  Chung nhật thuyết Bồ Đề”

        Nghĩa là Tự Tánh có đầy đủ Ba Thân: Thanh tịnh Pháp Thân là Tự Tánh thanh tịnh của mình dung thông và trùm khắp tất cả Tánh. Viên mãn Báo Thân là Trí  Tuệ bất sanh bất diệt của mình. Thiên bá ức Hóa Thân là tất cả những hạnh lành của mình.  Từ Ba Thân phát minh thành Tứ Trí:

1-Thành Sở Tác Trí (tức Ngũ Thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân chuyển thành Trí).

2- Diệu Quán Sát Trí (tức là thức thứ sáu: Ý Thức chuyển thành Trí).

3-Bình Đẳng Tánh Trí (tức là thức thứ bảy: Mạt Na Thức chuyển thành Trí).

4-Đại Viên Cảnh Trí (tức là thức thứ tám: A-Lại-Da Thức chuyển thành Trí).

         Tất cả chẳng lìa duyên thấy nghe, siêu nhiên bước lên quả Vị Phật. Lục Tổ vì chúng sanh mà nói, và điều này là niềm tin chắc chắn “Đế Tín” không mê lầm; không nên tìm cầu bên ngoài, trọn ngày nói Bồ Đề mà không hiểu Bồ Đề là gì?! Như vậy từ Tự Tánh mới có được Ba Thân và từ Ba Thân mới có được Tứ Trí. Nếu lìa Ba Thân mà nói Tứ Trí thì Trí này không có Thân, thì Trí là vô Trí. Tổ nói kệ: 

“Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh

  Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh

  Diệu quán sát trí kiến phi công

  Thành sở tác trí đồng viên cảnh

  Ngũ bát lục thất quả nhân chuyển

  Đãn dụng danh ngôn vô Thật Tánh

  Nhược ư chuyển xứ bất lưu tình

  Phồn hưng, vĩnh xử Na-già định”.

         Nghĩa là Đại Viên Cảnh Trí là Tánh thanh tịnh của nhân giả. Bình Đẳng Tánh Trí là Tâm không bệnh tức là không duyên theo Sắc Trần. Diệu Quán Sát Trí là làm tất cả mà như không có làm, tức là không chấp công chấp ngã hay có năng có sở. Thành Sở Tác Trí thì đồng với Đại Viên Cảnh Trí. Ngũ thức và thức thứ tám; thức thứ sáu và thức thứ bảy là trên quả và nhân chuyển: tức là thức thứ sáu, thức thứ bảy là nhân, còn ngũ thức và thức thứ tám là quả (lục thất nhân trung chuyển; ngũ bát quả thượng viên). Những thức này chỉ dụng danh ngôn mà không có Thật Tánh. Nếu ngay trên chỗ chuyển mà không dấy niệm (vô niệm) tức là sáu căn không Động mà Tĩnh, không có lưu tình, thì ngay nơi chỗ phồn hưng (ồn náo) mà vẫn ở trong đại định Na-già. Điều này Tổ thứ 22 Ma-Noa-La (Manorhita) Thiền Tông có nói: 

“Tâm tùy vạn cảnh chuyển           (Tâm theo muôn cảnh chuyển

  Chuyển xứ thật năng u                Chỗ chuyển thật kín sâu

  Tùy lưu nhận đắc Tánh               Tùy dòng nhận được Tánh

  Vô hỷ diệc vô ưu”.                      Không mừng cũng không lo).

        Chuyển Tám Thức thành Trí này, chỗ Bí Quyết là “Tĩnh”, nghĩa là không khởi niệm tức vô niệm, không lưu tình: “Vô hỷ diệc vô ưu” Cái Bí Quyết thứ hai là chỉ cần chuyển cái “Nhân” là thức thứ sáu (Ý Thức) và thức thứ bảy (Mạt Na Thức) thì được cái “Quả” tự nhiên chuyển theo là Ngũ Thức (nhãn, nhĩ ,tỷ, thiệt, thân) và thức thứ tám (A-Lại-Da Thức). Trong Duy Thức Luận có nói rõ công dụng của mỗi thức trong Bát Thức như sau :

 “Bát cá đệ huynh nhất cá si

   Độc hữu nhất cá tối lưu ly

   Ngũ cá môn tiền tố mãi mại

   Nhất cá gia trung tác chủ y”

        Nghĩa là trong tám anh em “Bát Thức” có một đứa “ngu si” nhất đó là anh thứ bảy (Mạt Na Thức) bởi vì chấp Ngã; anh thứ sáu (Ý Thức) thì khôn lanh nhất “tối lưu ly” có công hàng đầu đưa nhân giả tới chỗ giác ngộ giải thoát, nhưng cũng có tội bậc nhất đưa nhân giả vào địa ngục cũng dễ dàng: “công vi thủ, tội vi khôi”; từ anh thứ nhất tới anh thứ năm (nhãn, nhĩ ,tỷ, thiệt, thân) chỉ lo việc buôn bán tiếp xúc với khách trần bên ngoài; còn Ông Chủ thì ở trong nhà lo tàng trữ cất giữ mọi “Tích Sản” trong nhiều đời nhiều kiếp là thức thứ tám (A-Lại-Da Thức). Anh A-Lại-Da này còn  có những nhiệm vụ đặc biệt như sau: 

“Hạo hạo Tam Tàng bất khả cùng

  Uyên thâm thất lãng cảnh vi phong

  Thọ huân trì chủng căn thân khí

  Khứ hậu lai tiên tác chủ ông”.

 (Vòi vọi ba Tàng thật khôn cùng

 Vực sâu, “Bảy Sóng”chốn cuồng phong

Nhận  gom giữ chủng căn thân khí

Đi sau đến trước, Chủ là Ông). 

       Nghĩa là thức thứ tám A-Lại-Da là Tàng Thức có ba Tàng mênh mông vòi vọi là: Năng Tàng (có công năng tàng trữ tất cả chủng tử (hạt giống) trong nhiều đời nhiều kiếp), Sở Tàng (là nơi tất cả Pháp hiện hành huân tập vào) và Ngã Ái Chấp Tàng (chấp cái kiến phần của thức này làm Ngã là người Chủ khả ái cố giữ chặt không buông tha). A-Lại-Da là cái “vực sâu” thăm thẳm chứa “Bảy Sóng” cuồn cuộn là chỗ tạo thành Gió Nghiệp luân chuyển là “tài sản” của Căn Thân và Sắc Trần (tức là khí) thọ nhận, huân tập trong nhiều đời nhiều kiếp rồi cầm giữ tích chứa thành Nghiệp Chủng. Thức này khi con người chết thì đi sau cùng; khi luân hồi thì thọ nhập vào bào thai trước hết, là Ông Chủ tạo tác dẫn Nghiệp tái sinh ở đời sau. Trong A-Lại-Da,“Bảy Sóng” cùng nổi lên (tức là Động) thì tạo nên Gió Nghiệp thổi vào biển Luân Hồi. Trong “Bảy Sóng” thì Ý Thức và Mạt Na Thức là tối quan trọng trong Mê hay Ngộ. Bởi vì Ý Thức là “tối lưu ly” là tinh khôn nhất , dẫn đầu trong việc chuyển Nghiệp; còn Mạt Na Thức thì “si mê” chỉ biết ôm chấp cái ngã chướng ô nhiễm là ngã kiến, ngã si, ngã mạn và ngã ái, không chịu buông tha nên bị trói cột vào Nghiệp hay Chủng Tử luân hồi. Hai thức này chuyển thì Ngũ Thức và Bát Thức tự động chuyển theo: “Lục thất “nhân” trung chuyển; ngũ bát “quả” thượng viên”. Khi đó thì ngũ thức (nhãn, nhĩ ,tỷ, thiệt, thân) biến thành “Thành Sở Tác Trí”, còn thức thứ tám (A-Lại-Da Thức) chuyển thành “Đại Viên Cảnh Trí” là Biển Tánh thanh tịnh. Sáu căn không khởi niệm tức “Vô Niệm”, Mạt Na Thức không khởi niệm tức “Vô Ngã” thì “Bảy Sóng” lặng yên tức là “Tĩnh”thì: “Bát Thức hữu thần uy, Tâm đăng minh Pháp Giới”. NếuBảy Sóng” trong Bát Thức dấy động, nổi cuồng phong  dẫn Nghiệp tái sanh đẩy chúng sanh là Chánh Báo vào Biển Luân Hồi, thì Bảy Sóng” trong hạt nguyên tử  do Vô Minh hay Nghiệp Lực tác động tạo ra cái Sắc tức Y Báo là Thế Gian Mê cùng Nghiệp là căn nhà của Chúng Sanh Mê đang thọ Nghiệp. “Bảy Sóng” này là Bảy lớp “quỹ đạo electron” bị cột dính cứng chắc và quay chung quanh nhân nguyên tử (được xem như là Nghiệp vi tế) như những vòng tròn luân hồi, duyên khởi tạo tác thành thế giới vật chất từ Nguyên Tử cho tới Vũ Trụ là cái Sắc hay Y Báo của Chúng Sanh cùng Nghiệp Quả. Bát Thức cũng chính là Tâm, nếu “Bảy Sóng” trong Bát Thức lặng yên như chiếc Gương trong thì soi sáng cả ba ngàn Thế Giới: “Tâm đăng minh Pháp Giới”; thì “Bảy Sóng” trong cái Sắc cũng lặng yên, thế giới Mê tan hoại: Sắc trở về Không; cả Tâm và Cảnh (tức Sắc) Nhất Như đồng trở về Thế Giới Nhất Chơn, tức là cái Không hay Bát Nhã Chân Như…

        Chứng Ngộ “Tự Tánh” đạt Tam Thân Tứ Trí với “Bảy Sóng” lặng yên tịch diệt này nhờ khai thị của Lục Tổ Huệ Năng, Thiền Sư Trí Thông trình kệ:

 “Tam Thân nguyên ngã thể

  Tứ Trí Bản Tâm minh

  Thân Trí dung vô ngại

  Ứng vật nhiệm tùy hình

  Khởi tu giai vọng động

  Thủ trụ phỉ chân tinh

  Diệu chỉ nhân Sư hiểu

  Chung vong nhiễm ô danh”.   

         Nghĩa là nếu Ngộ rồi thì thấy Ba Thân nguyên là thể của chính mình, Tứ Trí là Bản Tâm sáng của mình, cả Thân và Trí đều dung thông vô ngại, khi đó tùy cơ ứng vật không bị vướng mắc. Còn như khởi niệm tu hành là vọng động; giữ trụ kềm chế thì không hợp với lẽ chân. Nhờ Thầy mà hiểu được diệu chỉ, cái danh hay cái tên là nhiễm ô cũng phải quên đi.

        Rốt ráo lại, chứng được Tự Tánh hòa  cùng Biển Tánh thanh tịnh, đạt được Tam Thân Tứ Trí mà trong đó Bát Thức chuyển thành Trí cũng chính là Tâm. Sóng Nghiệp lặng yên, không còn ngã sở thì Tâm “Tịnh” hòa cùng Biển Tâm trùm khắp Hư Không vô biên, là chiếc “Gương” soi rõ ba ngàn Thế Giới cùng với Biển Tánh Chân Như là Một.

       Như vậy Mê hay Ngộ chỉ có hai trạng thái TĨNH và ĐỘNG. Tĩnh là Chư Phật, Tổ và Thiền Sư ngộ Đạo. Còn Động là Chúng Sanh Mê trong sáu cõi luân hồi. Trong Mê thì có “Động”, trong “Động” “Dụng”, nhất “Động” nhất “Dụng”, sinh ra “Hữu”, là cái tướng Mê do Vô Minh hay Nghiệp Lực tác động, có cái “Tướng Động” là năng lượng chuyển thành khối lượng vật chất tạo ra Sắc Tướng Thế Gian Mê do Sóng Nghiệp hay Sóng Vô Minh duyên thành Sóng Vật Chất vi tế duyên khởi biến hóa thành nguyên tử cho đến vũ trụ, nguyên tử và vũ trụ đều “Động” mà hiện hữu. Thế Giới Mê tuy có Sắc Tướng nhưng không thật, chỉ là vọng khởi, huyễn ảo, là Bóng của cái KHÔNG vô hình tướng. Trái với Mê là Ngộ, trong Ngộ thì có “Tĩnh”, trong “Tĩnh” thì không “Động”, không “Động” thì không “Dụng”, không “Động” không “Dụng” là cái Tướng Không không Tướng, tức là “KHÔNG” là cái Tướng của Bát Nhã Niết Bàn. Thật ra Bát Nhã thì Như Như “Bất Động”, nhưng lại có cái “Dụng”“Hay sanh muôn Pháp” là cái Diệu Hữu của Chân Như. Cái “Dụng” này là Vạn Pháp Thế Gian từ Gốc Tâm hay Mặt Trăng Thứ Hai trở ra Ngọn Tâm do “Động” mà huyễn hóa thành đủ thứ sum la vạn tượng hiện đầy trong Hư Không. Tuy nhiên dù “Hiện Hữu” nhưng không thật có, chỉ là huyễn hóa, là Tánh Không nên “Diệu”. Với con mắt Bát Nhã thì ngay trên Động mà Bất Động, ngay trên Dụng mà Không Dụng, ngay trên Pháp Thế Gian hay cái “Bóng Trăng”“trực chỉ” thấy “Mặt Trăng Thật”, thấy Sắc tức Không, tức là “Không Động”“Không Dụng” ngay trên cái tướng “Động Dụng” của Pháp Thế Gian. Do đó trong “Tĩnh”, đâu đâu Vạn Pháp cũng đều Như! Do dứt Vô Minh hay Nghiệp Lực tác động nên Sóng Vật Chất vi tế biến mất thì Vật Chất từ Nguyên Tử cho đến Vũ Trụ của Thế Gian Mê sụp đổ tan hoại: Sắc trở về Không. “Tĩnh” cũng như Mặt Nước Biển yên lặng thì Sóng mất, trở về với Nước. Trong “Tĩnh” : Sắc về với Không, Sóng về với Nước, tức là về lại Gốc, trở lại Nguồn, về Căn Nhà Xưa: căn nhà “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” vô thủy. 

       Nói tới “Động”“Tĩnh”, cũng nên phân biệt cái “Động”“Tĩnh” mà Lục Tổ Huệ Năng đề cập tới loài Hữu Tình như chúng sanh và loài Vô Tình như cây cỏ, đất đá… Hữu Tình là biết “Động”, còn Vô Tình thì không biết “Động”. Ở đây chỉ nói về hình thức bên ngoài của loài Vô Tình như đất  đá,…là “Bất Động” tức Vô Tri; khi không nói đến nội dung bên trong với những hạt hay sóng vật chất luôn luôn động. Nếu chấp cái “Bất Động” này để hành trì thì người Tu cũng giống như gỗ đá thì bất động vẫn là bất động, không thể đạt được cái “ Chân Thật Bất Động”. Vì vậy Lục Tổ Huệ Năng có nhắc nhở:

“Hữu Tình tức biết động

  Vô Tình tức không động

  Nếu tu hạnh bất động

  Đồng Vô Tình bất động”

        Muốn tìm cái “Chân Thật Bất Động”,  là loài Hữu Tình, chúng sanh có sáu căn hoạt động thì ngay trên “Động” “Bất Động”, tức là ngay trên sáu căn (thấy nghe hiểu biết, xúc chạm…) là cái Tướng Động nhưng không đuổi theo sáu trần, nghĩa là tuy có thấy có nghe có hiểu biết… nhưng “không khởi niệm”. Đây chính là ngay trên “Động”“Bất Động”, ngay trên niệm mà lìa niệm, tức “Vô Niệm” hay ngay trên cảnh mà lìa cảnh, tức “Vô Tâm”. Còn như bất động hoàn toàn: không thấy không nghe không hiểu biết…thì bất động vẫn là bất động, đồng với loài Vô Tình như đất đá cây cỏ, không có Phật Tánh:

“Nếu tìm Chân Bất Động

  Trên động có bất động

  Bất động là bất động

  Vô Tình không Phật Tánh.” (Lục Tổ Huệ Năng).

         Trở về cái Mê hay Ngộ ở hai trạng thái TĨNH và ĐỘNG. Ngay khi Ngộ thì Sắc về với Không: Chánh Báo và Y Báo đều hòa chung với cái Hư Không vô biên là Pháp Thân bình đẳng trong Hoa Tạng Pháp Giới. Ngay khi Ngộ thì Sóng hay Hòn Bọt mất, hòa với Biển Nước lặng yên; cái Ngã Sóng mất, cái Ngã Bọt mất, hòa thành Biển Cả bao la. Ngay khi Ngộ thì Thân Tâm mất, Thân là Pháp Thân: Hư Không vô biên, Tâm là Đại Tâm thành Biển Tánh bao la dung thông với tất cả Tánh. Con mắt “Vô” của Sa Môn thấy cái “Dụng” ở trong “Động” nhận ra tức thời cái “Thể” ở trong “Tĩnh”, thấy “Tướng”“Vô Tướng”, thấy Vật tức Tâm, thấy Sắc tức Không, thấy Đại Địa Quần Sanh là Thế Giới Nhất Chơn bình đẳng. Tất cả Sum La Vạn Tượng đều đồng loạt mở toang con mắt Bát Nhã rực cả Bầu Trời Hư Không vô tận: “Đại Địa Quần Sanh nhãn hoát khai”. Con mắt “Vô Tướng” của Tổ Long Thọ cũng vậy: Không thấy Như Lai đâu cả, mà đâu đâu cũng thấy Như Lai, không thấy Pháp Thân Phật đâu cả, mà đâu đâu cũng thấy Pháp Thân Phật, không thấy Niết Bàn đâu cả mà đâu đâu cũng gặp Niết Bàn, không thấy Bát Nhã đâu cả, mà đâu đâu cũng là Bát Nhã… Bởi vì tất cả cái thấy hay cái Chứng Ngộ này đều ở trong “Tĩnh” tức Vô Tác. Vô Tác ở đây cũng đồng với Vô Niệm, Vô Tâm hay vô sở trụ. Tất cả cái thấy “Vô, Vô Tướng, Vô Tác” này đều ở trong “Tĩnh”. “Tĩnh” là trở về cái Chân Lý vĩnh hằng và tuyệt đối của Vạn Hữu là “Sắc tức thị Không”

        Điều này được “Thực Chứng” bằng giấc Chiêm Bao. Chiêm Bao là do cái Tâm Mê đang “Động” hiện ra Thế Giới Chiêm Bao mà trong đó cái SẮC tức là Vật Chất và Vũ Trụ trong Chiêm Bao không có thật, chỉ là cái Bóng của Thân Tâm đang nằm ngủ mê trên giường biến chiếu ra và cái Thân Tâm này, Chúng Sanh trong Chiêm Bao không thể nhìn thấy mà chỉ thấy là Hư Không Rỗng Rang. Khi “Thức Dậy” tức là không còn Mê hay không ở trạng thái Động của cái Tâm Mê trong Chiêm Bao, mà ở trạng thái Tĩnh thì cái SẮC mất hay Vật Chất và Vũ Trụ trong Chiêm Bao mất, chỉ có cái “Thân Thật” ở trên giường đang “Thức Dậy”. Cái “Thân Thật” này giải mã cái Bí Mật mà chúng sanh trong Chiêm Bao không thể hiểu nổi. Nó biến hóa vô cùng: sơn hà, đại địa, mọi chúng sanh, cây cỏ, muông thú…cả ba ngàn thế giới Chiêm Bao, nó làm ngược rồi làm xuôi mà chúng sanh trong Chiêm Bao không hiểu không biết, nhìn thì chẳng thấy sờ thì không đụng, chỉ thấy Hư Không rỗng rang! Cái “Thân Thật” này vừa là Hư Không, Pháp Thân, Bát Nhã, Niết Bàn, Chân Lý tuyệt đối của Thế Giới Chiêm Bao, vừa là Thế Giới Nhất Chân: “Một là Tất Cả” hay cái Không vi diệu: “Không tức thị Sắc”… Đem  Tấm Bản Đồ Mộng “Nhắm Mắt Chiêm Bao” này chồng lên Tấm Bản Đồ Mộng “Mở Mắt Chiêm Bao” của Chúng Sanh hiện tại thì sẽ khám phá ra cái Đạo Lý siêu việt “Sắc tức thị KHÔNG”, chẳng những “Thực Chứng” bằng giấc Chiêm Bao mà còn “Thực Chứng” bằng Khoa Học như đã luận giải ở phần trên ! Người đi tìm Đạo có thể dựa vào hai cái “Thực Chứng” này để có niềm tin vững chắc đạt tới “Chánh Tín” và hình dung ra phần nào cái “Thực Chứng” của Chư Phật, Tổ và Thiền Sư Ngộ Đạo: 

“Mộng lý minh minh hữu lục thú

  Giác hậu không không vô đại thiên”.

                               (Thiền Sư  Huyền Giác).  

       Nghĩa  là còn Mộng, còn Mê thì còn sáu ngã luân hồi, Giác rồi hay dứt Mộng hết Mê, Ngộ rồi hay đã Thức Dậy thì gặp cái KHÔNG, tức là Niết Bàn, Bát Nhã, Chân Như, Thực Tướng…Và khi đó ba ngàn thế giới cũng không có…Nghĩa là cái SẮC: từ nguyên tử Vật Chất cho đến Vũ Trụ đều “không có”, đạt đến cái Chân Lý tuyệt đối: “Sắc tức thị KHÔNG”.

        Tóm lại còn Mê thì thấy Sắc, Ngộ rồi hay Thức Dậy thì Sắc mất trở về Không, trở về cái “Thân Thật” là Pháp Thân, là Thật Tướng là Niết Bàn, là Bát Nhã Chân Như…Cảm ơn Khoa Học và Nhà Bác Học Einstein đã phân tích tới cái tận cùng của Vật Chất là Sóng vi tế năng lượng cao và Năng Lượng có thể chuyển thành Khối Lượng Vật Chất và nhờ đó giải được cái Lý Sắc Không của Đức Phật Thích Ca. Nhưng Khoa Học dừng lại nơi cái Tướng Sóng hay cái Tướng Sắc mà không biết Sóng Vật Chất này cũng giống như Sóng Nước và như thế : Sóng trở về Nước cũng giống như Sắc trở về Không . Do đó Khoa Học không thể “nhảy qua đầu sào trăm trượng” của Thiền Sư Cảnh Sầm hay “cái cửa Vô Vi” của Thiền Sư Huyền Giác để đạt tới cái Chân Lý rốt ráo và ngộ nhập với cái Chân Lý này. Tuy nhiên cũng nhờ Khoa Học mới biết được cái Đạo Lý tuyệt vời “Sắc tức thị Không” của Đức Phật Thích Ca cũng như những khai thị trợ duyên siêu việt của Tổ và Thiền Sư ngộ đạo. Tận đầu nguồn, vừa huốt khỏi cái Sắc, cái Sóng, cái máy động của Sự Vật trên hình tướng, tức là cái Vô Vi thì nhận ra được cái KHÔNG là Mẹ Đẻ ra tất cả mọi sự vật: từ nguyên tử vật chất cho tới cả vũ trụ. Như vậy đã quá rõ ràng với lời Kinh Bát Nhã: 

“Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc

  Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”.  

        Và lời Kinh này xem như đã được chứng minh bằng Khoa Học! Tuy nhiên Khoa Học chưa thấy được điều này, vì Khoa Học còn chấp trên hình tướng, nên bị “kẹt” hay bị chướng ngại, vừa đụng tới cái Gốc của Sự Vật là cái Không thì Khoa Học lại quay đầu trở ra cái Ngọn, tức là Khoa Học vẫn còn bị điên đảo ở nơi cái Bóng Trăng!

        Giới hạn của Khoa Học là chỉ khám phá ra được phần “Dụng” trên vật hữu hình, hữu tướng, tức là nhận ra được cái Hiện Tượng hay cái Bóng Trăng. Còn phần “Thể” trên cái Vô Tướng, phi Sự Vật, tức là cái Bản Thể hay Mặt Trăng thật thì chưa khám phá ra được. Đức Phật đã nhìn thấy được cái Chân Lý tuyệt đối: Sắc tức thị Không. Và cái Không này, chính là Bát Nhã, là Thật Tướng, là Bản Thể của Vũ Trụ và Vật Chất… là Căn Nhà xưa của mọi Chúng Sanh trong sáu ngã Luân Hồi, là Niết Bàn thường lạc ngã tịnh. Muốn Ngộ Nhập hay trở về Căn Nhà xưa thì phải có cái Tâm tương ưng, huốt cả đường Tâm đạt tới cái Tâm không là cái Tâm Vô Vi của Thiền Sư Huyền Giác, cái Tâm Vô Niệm của Lục Tổ Huệ Năng hay cái Tâm Vô: Vô Tâm nơi Sự, vô Sự nơi Tâm của Thiền Sư Đức Sơn… Cái Không là cái Chân Lý tuyệt vời của Vũ Trụ và Chúng Sanh là cái Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa mà Đức Phật với Trí Tuệ siêu việt khi đạt Chánh Đẳng Chánh Giác đã khám phá ra và chỉ đường rành rẽ cho Chúng Sanh với Tấm Bản Đồ Bát Nhã “Sắc tức thị Không” là Kim Chỉ Nam cho hành giả đi tìm Chân Lý Giải Thoát.(Click Xem tiếp Phần V-P.2)