Đức Phật trao Tấm Bản Đồ “Bát Nhã”; Thiền Sư Huyền Giác chỉ con đường tắt: “Tuyệt học Vô Vi” tức là cái “cửa Vô Vi”: ( Tranh tự Vô Vi Thực Tướng môn ) để trực tiếp nhảy thẳng vào đất Như Lai hay căn nhà Bát Nhã : ( Nhất siêu trực nhập Như Lai Địa ) khỏi phải mất nhiều thời gian nhiều đời nhiều kiếp dò tìm như vào biển đếm cát, mà không đến nơi hay không tìm ra Đạo…Từ khi Đức Phật Thích Ca đạt Chánh Đẳng Chánh Giác, tìm được con đường GIải Thoát, có Đức Phật cung cấp Bản Đồ chính xác, có Thiền Sư Ngộ Đạo chỉ con đường tắt đến tận cửa vào mà các Ngài đã đi qua với những kinh nghiệm “Thực Chứng” vô cùng quý giá, tất cả chúng sanh từ đây được hưởng một ân huệ vô giá là có con đường Giải Thoát khỏi phiền não và sinh tử luân hồi! Tuy nhiên vì thế lực Vô Minh cõi Ta Bà rất nặng nề và chúng sanh với đủ mọi thứ Cộng Nghiệp, Biệt Nghiệp sâu dầy trong nhiều đời nhiều kiếp, trong khi Phật Pháp chưa ra đời hay đã ra đời rồi nhưng chưa đủ duyên, con người từ sự mông muội, ngu si đi đến mê tín, cuồng tín rồi dục vọng, tham vọng quyền lực… nhưng rồi cũng tự thấy bất lực trước cái chết, sợ thiên tai,  địa ách, bệnh tật… cho nên đôi lúc cầu Thần Quyền hay “tự kỷ ám thị” bị loạn tâm loạn tưởng nằm mơ hay ảo giác tự cho là thấy Phật, thấy Thần, gặp mặt Thượng Đế… do Tâm Mê tạo tác để thỏa mãn cho cái Ngã cái Nghiệp hay tham vọng, dục vọng… lầm tưởng tự cho là Ngộ Đạo, là Sứ Giả của Thượng Đế, rồi tự xưng là Giáo Chủ của Một Tôn Giáo hay một Pháp Môn. Cũng có nhiều người thực tâm đi tìm Đạo, tự lập ra Pháp Môn tu tập, nhưng không tìm ra Đạo! Thời Đức Phật còn tại thế cách đây hơn 2500 năm, đã có tới những 96 mối Đạo, Tôn Giáo hay Pháp Môn như thế! Tuy nhiên, chỉ có duy nhất Đức Phật Thích Ca là tìm ra Đạo đạt Chánh Đảng Chánh Giác. Rất nhiều Sa Môn ngoại Đạo như Bà La Môn hay các Tôn Giáo khác lìa bỏ những Pháp Môn hay Tôn Giáo của mình, đi theo Phật và cũng đắc Đạo! Còn tất cả những mối Đạo kia, nếu không phải là những Tà Thần, Tà Pháp hay Tà Giáo có tính cách Hoang Tưởng Mê Tín hay Cuồng Tín… thì cũng chỉ là những Pháp Môn hay Tôn Giáo của những “Đức tin” mơ hồ, cạn cợt, hoặc sai lầm, chưa đạt được mục đích Giải Thoát! Từ đó cho đến ngày nay ( thế kỷ 21) có một số Tôn Giáo mới ra đời, tuy nhiên không có một Tôn Giáo nào có thể so sánh được với Đạo Phật về tính nhân bản, lòng nhân ái, không hận thù không hiếu sát, không mê tín cuồng tín, có lòng khoan dung hỉ xã, sự an lạc cho tất cả chúng sanh, không có Giáo Luật ràng buộc hay cột trói tín đồ, đem lại một mùa Xuân yên lành và miên viễn cho tất cả mọi chúng sanh từ loài người cho đến loài vật chim muông cây cỏ…. Một Đạo Phật Trí Tuệ siêu việt và lòng từ bi vô hạn, đạt Chân Lý Giải Thoát!

         Tuy nhiên, vì Pháp Trần là ô nhiễm Tham Sân Si và Nghiệp Chướng Vô Minh, cho nên gặp được Phật Pháp không phải là dễ, gặp được Chánh Pháp lại càng khó hơn. Đối với chúng sanh chưa đủ duyên lành, Nghiệp Chướng Vô Minh quá nặng, dù có gặp Phật Pháp, nhưng chưa chắc đã hiểu rõ hay ứng dụng được Phật Pháp cho mục đích Giải Thoát! Kinh Phật hay Pháp Phật, nếu qua tay phàm phu thì chỉ là một mớ văn tự suông vô giá trị, qua tay người mang nặng Tà Kiến, Tà Tư Duy thì trở thành Tà Pháp, còn qua tay người có Đạo hay các Chư Tổ và Thiền Sư thì trở thành Bảo Pháp của Phật giúp người trừ được phiền não và có thể đạt đến bờ Giải Thoát. Do đó Pháp  Phật không thể để cho kẻ phàm phu hay cho những người có tham vọng chính trị, quyền lực, danh vọng tiền tài vật chất hay tà kiến thế gian sử dụng hay diễn dịch tự ý theo cái Nghiệp hay cái Ngã Kiến, Sở Kiến sai lầm của mình. Phật từng nói: “Biết Ta mà không hiểu Ta, chỉ là hủy báng Ta!” .

         Ở Trung Hoa thời Tam Quốc khi nhà Hán suy, giặc giã nổi lên như ong, ba anh em (Trương Lương, Trương Bảo, Trương Giác) lợi dụng thời cơ mượn một phần Phật Pháp pha trộn với những mê tín bùa chú, trị bệnh… để khuyến dụ dân chúng. Lúc đầu khá thành công trong tham vọng quyền lực, bắt đầu sự nghiệp với chiêu bài : lấy hình thức Tôn Giáo làm Chính Trị : “Thế Thiên Hành Đạo”, dựa vào sự mê tín của quần chúng, tập hợp được khoảng 100 vạn quân, sử gọi là giặc Khăn Vàng. Tuy nhiên về sau, Bùa Chú hay Phép Lạ không linh ứng, cả ba anh em đều bị  Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi chém đầu, giặc Khăn Vàng tan rã.

       Ngày nay, có một số nơi Phật Pháp bị “pha chế quá liều” với Thế Gian Pháp. Phật Pháp ở đây trở thành Pháp chết, trống rỗng nặng nề về hình thức, hoặc mê tín… Đôi khi mượn danh Phật, mượn Pháp Phật, mượn nhà chùa để kinh doanh thương mại, lừa gạt chúng sanh một cách tinh vi… Đức Phật có cảnh báo trước : thời Mạt Pháp, Ma Phật lẫn lộn rất khó phân biệt. Nhiều Vị nói Phật Pháp, giảng Phật Pháp rất hay, nhưng chưa chắc đã là chân tu ! Có một Vị Đại Đệ Tử hỏi : khi Phật nhập diệt rồi thì lấy ai làm Thầy ? ”. Phật trả lời : hãy lấy Giới Luật làm Thầy”. Đây quả là thước đo khá chính xác! Do đó, hễ thấy Vị nào phạm nhiều Giới Luật như sống xa xỉ tiền tài vật chất phí phạm của bá tánh, vẽ vời nhiều “Phật Sự”, nói láo hay vọng ngữ có tâm ngã mạn, hay nóng giận, tham danh lợi thế gian, sống chung đụng ăn ở chung với nữ giới nhiều ngày nhiều tháng  hay nhiều năm, có quan hệ ái dục nam nữ dù tinh vi kín đáo hay lộ liễu… thì dù có thao thao giảng pháp hấp dẫn cách mấy cũng nên lánh xa !

       Có Pháp Môn hay Tôn Giáo mượn một phần Phật Pháp rồi pha trộn một cách gượng ép với các Tôn Giáo Thần Quyền khác như Bà La Môn, Ki-Tô-Giáo… đặt Thượng Đế lên cao nhất, đem Phật xuống dưới thấp ngang hàng với các Vị Thần Bà La Môn, sửa lại Pháp Phật cho một số Vị Phật có nhiệm vụ riêng như luyện hồn chúng sanh sau khi chết để đưa đi đầu thai mà không phải là Nghiệp Lực… Phật Pháp ở đây không phải là Chánh Pháp !

      Có Pháp Môn về hình thức thì giống Phật Giáo nhưng nội dung hoàn toàn phản Phật Giáo. Vị Pháp Chủ dùng cái chước là truyền Tâm Ấn để trói chặt tín đồ, dùng pháp “Quán Âm” khi nghe được âm thanh của Thượng Đế là Đắc Đạo. Tuy nhiên trong Kinh Kim Cang Phật nói: “Nhược dĩ Sắc kiến Ngã, Dĩ âm thanh cầu Ngã, Thị nhân hành Tà Đạo, bất năng kiến Như Lai?!”

      Có Pháp Môn lạm danh Thiền, mượn những “chiêu” Thiền thật đặc sắc của Phật, Tổ và Thiền Sư ngày xưa làm vốn liếng, do đó cảm hóa dễ dàng  người mới học Đạo. Tuy nhiên sau đó lại báng Phật, bài Tổ, tự cho là ngộ Đạo rồi đem cái Nghiệp cái Ngã cái Sở Kiến sai lầm của mình vào thì trở nên lạc lõng vô vị. Học phương Tây về Thần Quyền rồi đem Thượng Đế Ki-Tô vào nhà Thiền, chế tác những pháp Thiền kỳ lạ quái gở, điển hình như  “Thiền Động” (Dynamic Meditation), nghĩa là trước khi ngồi Thiền cả tập thể ca hát nhảy múa cực kỳ sôi động…

      Thiền Sư Huyền Giác cũng than trách những ác tệ làm suy đồi Phật Pháp, làm hại chúng sanh trong thời đại Ngài, thì ngày nay những ác tệ  cũng có thể làm cho Phật Pháp suy đồi: 

 “Ta ! Mạt Pháp, ác thời thế                        (Than ôi! Mạt Pháp, thời thế ác

   Chúng sinh phước bạc nan điều chế.        Chúng sinh phước mỏng khó điều phục

   Khứ thánh viễn hề, tà kiến thâm              Xa cách Hiền Thánh, tà kiến sâu

   Ma cường, Pháp nhược đa oán hại”.       Ma mạnh, Pháp yếu, nhiều ác tệ).

                                    (Thiền Sư Huyền Giác).

       Ma mạnh Pháp yếu dẫn dắt chúng sanh đi theo con đường Mê là do hành giả chưa đạt tới niềm tin Chánh Tín. Nghe hay đọc mà vội tin ngay thì dễ trở thành mê tín, tà tín rồi chấp vào sự mê tín, tà tín đó thành ra cuồng tín…Nếu chịu khó quán chiếu sâu sắc, suy xét, phân tích, truy tìm, học hỏi…như lời Đức Phật dặn dò: “phải thử nó như thử vàng”…thì mọi việc trắng đen sẽ hiển bày, nhận diện được chánh tà và khi đó có niềm tin Chánh Tín bắt đầu tu tập (Văn, Tư, Tu) thì mới không bị lầm lạc. Đức Phật có dặn dò rất kỹ dù là Kinh Sách ngày xưa để lại ,hay lời nói của một Vị Giáo Chủ nổi tiếng, Truyền Thống lâu đời để lại…cũng đừng tin, mà phải suy xét, so sánh, phân tích cho thật kỹ nếu thấy đúng, hợp lý,có giá trị, có lợi ích thì mới tin. Từ đó “khám phá” ra được nhiều điều tưởng rằng linh thiêng, là pháp mầu là phép lạ… rốt cuộc cũng chỉ là trí tuệ vụn vặt, cạn cợt hoặc sai lầm của phàm phu. Cũng từ đó, giúp cho hành giả đi tìm Chân Lý Giải Thoát khỏi bị lầm lạc : nhận Ma làm Phật, Phàm Tăng cho là Thánh Tăng, Tà Giáo cho là Chánh Giáo, Tà Pháp cho là Chánh Pháp…  

      Điều chắc chắn mà không sợ bị lầm là cứ theo “Dấu Chân” của Phật của Tổ mà đi, vì các Ngài đã “Chứng Đạo” ; dựa vào Tấm Bản Đồ mà Phật đã trao từ Ngài Ca Diếp truyền qua 28 đời Tổ Sư cho tới Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Lục Tổ Huệ Năng, Thiền Sư Huyền Giác…tất cả đều nhờ Tấm Bản Đồ này mà Chứng Ngộ với Trí Tuệ Bát Nhã siêu việt thì hậu sinh có thể dùng Tấm Bản Đồ này mà không sợ bị lạc đường, cộng thêm với những Bí Quyết hay kinh nghiệm Chứng Đạo của các Ngài chỉ thẳng Cửa Vào thì con đường đi tìm Chân Lý Giải Thoát không còn xa vời như các Ngài đã khuyên bảo và khai thị…Còn đối với Pháp Môn mới lạ, của người đời nay, sau khi phân tích tận đầu nguồn thì rõ ràng chỉ là trí phàm phu cạn cợt, có cái rất sai lầm và ác tệ…không phải của người Chứng Đạo…

      Cuối cùng “trí phàm phu không thể  nào sánh được với Trí Bát Nhã của Chư Phật”. Rốt ráo lại hầu hết những Pháp Môn “hiện đại” ngày nay đều không có giá trị Tâm Linh, Chứng Ngộ hay Giải Thoát siêu việt như của Phật, Tổ và Thiền Sư ngày xưa! Vậy thì tại sao người đi tìm Đạo ngày nay không theo dấu chân của Phật, của Tổ và Thiền Sư Ngộ Đạo ngày xưa, lại chạy theo “thời trang” chỉ có lớp sơn bên ngoài là đẹp, bên trong thì cạn cợt, lắm lúc sai lầm một cách đáng thương ! Ngày xưa cũng có những hiện tượng Phật Pháp suy đồi, nhưng nhờ có Thiền Sư Ngộ Đạo ra đời chỉ đường dẫn lối, nên Tà Pháp không thắng nổi Chánh Pháp:

 “Bờ bên kia có Đức Sơn hiền Thánh

  Bao sớ Kinh một gánh đốt thành than

  Răng như gươm, miệng phun máu ngang tàng

  Dẹp ô nhiễm lan tràn nơi Cửa Phật”.

      Thiền Sư Đức Sơn, thông suốt nhiều Kinh Tạng, nhất là Kinh Kim Cang còn có biệt danh là Chu Kim Cang. Ngài gánh nhiều Kinh Sớ đi lùng sục hang ổ của cái “đám Ma Vương” Thiền Tông phương Nam. Người ta tu rất nhiều kiếp còn chưa Ngộ, mà cái “bọn” này dám nói “Tu nhất kiếp, Ngộ nhất thời”, phải lấy Kinh Sớ ra chứng minh cho “bọn” này biết tay, để đền ơn Phật. Tuy nhiên sau khi Đại Ngộ với sự khai thị của Thiền Sư Sùng Tín, bị đánh cho một gậy, không ngó lại, đi thẳng lên đỉnh núi cao cất am tranh, răng như rừng gươm, miệng như chậu máu, quở Phật mắng Tổ, truyền cái Đạo của Ngài Sùng Tín. Quở Phật mắng Tổ: Ý nói khi đã Ngộ, thấy được cái thấy của Phật của Tổ, vì quá kính Phật trọng Tổ mà phải dùng “lời nghịch” để diễn tả. Răng như rừng gươm, miệng như chậu máu: Ngài mắng các vị “Phàm Tăng”, không chịu lo tu để Ngộ Đạo cứu khổ chúng sinh ….Pháp của Ngài sắc bén, thủ thuật kỳ đặc mạnh mẽ. Khi “Mưa Pháp” thì “răng như rừng gươm, miệng như chậu máu” chém đứt Vô Minh, rũ sạch Tà Kiến, tận diệt Ngã Chấp…dễ đưa người tới chỗ Ngộ Đạo.  

      Tóm lại, LÊN ĐƯỜNG đi tìm ĐẠO GIẢI THOÁT cứ nắm vững Tấm Bản Đồ của Phật, Tổ hay Thiền Sư ngộ Đạo ngày xưa mà đi thẳng, không nên ghé vào “Bến Bãi” của Pháp Trần hay của Ngoại Đạo mà lạc mất phương hướng !

     *Trong tất cả Pháp Môn, Thiền Tông đặt Trí Tuệ lên hàng đầu, nhưng lại bị mang tiếng là thời Mạt Pháp khó tu, rất ít hoặc không có người thành Đạo! Ngày xưa Phật Thích Ca “chủ động” đi tìm Chân Lý và đạt được Chân Lý. Các Tổ và Thiền Sư nhờ có Đức Phật đi trước dẫn đường, noi gương Phật, học theo Phật, chủ động đi tìm Chân Lý và cũng đạt được Giác Ngộ Giải Thoát y như Phật. Đức Phật nhiều lần căn dặn : “Các ngươi hãy tự đốt đuốc lên mà đi và đi với Chánh Pháp”! Đức Phật Thích Ca tu Thiền mà thành Đạo, thuyết Pháp nhiều Kinh Điển siêu việt, trực tiếp cứu khổ chúng sanh cõi Ta Bà. Nhưng hầu như chúng sanh ngày nay thích cúng lạy tế lễ và cầu xin nhiều hơn là theo dấu chân Đức Phật Thích Ca trên con đường Giải Thoát ! Phật Thích Ca chứng Đạo không phải nhờ cúng lạy và cầu xin mà tự thân tìm Đạo bằng Trí Tuệ. Không phải bác bỏ hoàn toàn việc cúng lạy và cầu xin, nhưng nếu chỉ biết cúng lạy và cầu xin suông thì dù là Thiền Tông, Tịnh Độ hay Mật Tông, Tiểu Thừa hay Đại Thừa… cũng không thể nào đạt được mục đích Giải Thoát như Đức Phật. Đi theo con đường của Phật Thích Ca hay Phật A-Di-Đà… con đường nào cũng là Đạo, vì Phật nào thì cũng là Phật ! Miễn là đừng mê tín và biết dùng Chánh Pháp của Phật mà tự độ và độ chúng sanh, không chen lẫn quá nhiều Pháp Thế Gian để rồi Chánh Pháp bị lu mờ. Phật là bình đẳng, không phân biệt, Pháp Môn nào cũng được, nhưng phải sáng suốt và có lý trí phán đoán. Không có thể nói, vì hợp với “căn cơ” vừa với sức mình, mà nhắm mắt đi theo Ngoại Đạo, Tà Đạo hay một Pháp Môn nào đó; trong khi cái gọi là “căn cơ” chưa chắc là “căn cơ” mà có thể chỉ là cái Nghiệp Chướng, cái sở thích hoặc cái hiểu biết yếu kém, cạn cợt hoặc sai lầm của mình, nhưng cố chấp thành định kiến rồi thành Mê Tín hay Cuồng Tín! Ngày nay, Pháp Môn Tịnh Độ với niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà có vẻ khá thịnh hành. Tuy nhiên, nếu chỉ biết cúng lạy và niệm Phật suông thì dễ đi đến chỗ mê tín. Còn hiểu sâu về Phật A-Di-Đà, công phu bằng trí tuệ Phật nơi Tự Tâm thì Pháp Môn niệm Phật cũng đạt kết quả Giải Thoát chẳng khác Thiền Tông… Niệm Phật có thể chia ra ba cấp từ thấp tới cao: niệm Phật để cầu xin, niệm Phật nhất tâm bất loạn và niệm Phật trong Vô Niệm Vô Tướng.

1-Pháp Môn Tịnh Độ độ cho “Người Chết”:

- Niệm Phật cầu xin được Vãng Sanh.

      Theo Kinh Điển Hán Tạng của Phật Giáo Bắc Tông, Pháp Môn Tịnh Độ cầu Vãng Sanh về Cõi Tây Phương Cực Lạc để cứu chúng sanh, rước chúng sanh về một nơi an toàn, không còn luân hồi, để tiếp tục cuộc hành trình tu tập. Gọi là Cực Lạc vì thế giới đó không còn khổ, tu không thối chuyển, có sông suối, chim ca, gió hú, có 7 báu toàn là lưu ly, bách ngọc, mã não, sa cừ…cảnh đẹp vô cùng vô tận, nhất là không có sinh tử, tiếp tục tu cho đến Cửu Phẩm Liên Hoa đạt đến Niết Bàn rốt ráo…Được Vãng Sanh về Cõi Tây Phương Cực Lạc thì không còn bị ám ảnh bởi cái chết nữa, bởi vì cái chết thật là đáng sợ đối với hầu hết chúng sanh nhất là bị lôi cuốn trong vòng luân hồi dài vô tận, không có lối thoát, nếu Nghiệp Chướng nặng thì bị đầu thai vào ba đường ác là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh không biết làm sao thoát ra được, thì thật là khủng khiếp càng đáng sợ hơn! 

      Cũng theo Kinh Điển Hán Tạng, khi còn ở cõi Ta Bà chỉ cần tu theo Tịnh Độ, niệm Lục Tự Di Đà là: “Nam Mô A-Di-Đà-Phật” là được cứu độ. Theo lời phát nguyện của Phật A-Di-Đà chỉ cần niệm hồng danh Ngài có 10 tiếng trước khi chết thì được Phật độ về Cõi Cực Lạc tức được Vãng Sanh. Thật ra khi còn sống hay trước khi lâm chung người ta đã niệm hàng trăm thậm chí hàng ngàn lần, ngoài ra còn được các Chư Tăng hay cả một ban hộ niệm trợ duyên trước khi, trong khi và sau khi lâm chung… Rồi trong vòng thời gian 49 ngày (7 thất) còn được cúng thất, niệm Phật, đọc Kinh và cuối cùng là cúng 100 ngày. Ngoài ra còn cúng trai tăng, cúng sám hối cho vong linh, phóng sinh làm phước…Tất cả đều thật chu đáo… thì niềm tin được Vãng Sanh về Cõi Cực Lạc rất lớn. Trong khi Thiền Tông thì không có cúng lạy, cúng vong, niệm hay hộ niệm nhiều như thế… Như vậy xem ra Thiền Tông không có độ cho người chết!

      Tỳ Kheo Pháp Tạng (tức Phật A-Di-Đà sau này) vì lòng Từ Bi rộng lớn muốn độ hết thảy chúng sanh nên có 48 lời nguyện trong đó lời phát nguyện thứ 11 nói rằng: “Một hành giả nào chỉ niệm 10 niệm danh hiệu Ta mà không Vãng Sanh Tây Phương thì ta nguyện sẽ không thành Phật”. Và rồi Tỳ Kheo Pháp Tạng đã thành Phật và danh hiệu Ngài là A-Di-Đà. Dựa vào sự kiện này mà có một số Vị Pháp Sư Tịnh Độ tin tưởng rằng vì Phật không bao giờ nói dối, các Vị nhấn mạnh đến tha lực của Phật và hiểu rằng tha lực của Phật là vô tận, là Thượng Đế muốn làm gì cũng được cầu xin là cho ngay và lời phát nguyện thứ 11 kia phải là sự thật. Do đó các vị Pháp Sư và  Phật Tử tin chắc vào điều này nên Pháp Môn niệm Phật vãng sanh càng ngày càng rầm rộ! Vì tu theo Tịnh Độ thì quá dễ, chỉ cần niệm Phật 10 niệm là được về Tây Phương, trong khi có nhiều người đã niệm Phật gấp trăm gấp ngàn lần như thế và còn đang tiếp tục niệm Phật; do đó có những Vị Pháp Sư mạnh dạn tuyên bố theo Tịnh Độ 100% là được Vãng Sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A-Di-Đà, mang cả Nghiệp Chướng về cõi đó tu tiếp cho đến Cửu  Phẩm Liên Hoa đắc Đạo, dễ hơn Thiền Tông rất nhiều.

      Tuy nhiên, dựa vào câu nói của Đức Phật Thích Ca: “Đừng tin những gì do Kinh Sách từ xưa để lại… mà phải suy xét, phân tích cho thật kỹ…”  cho nên có nhiều người phản biện về sự việc trên và cho rằng Kinh Điển Hán Tạng của Phật Giáo Bắc Tông, có nhiều sửa đổi hoặc diễn dịch sai lệch, không có tính cách chính thống như kinh điển Pali của Phật Giáo Nam Tông ?! Hoặc cũng có thể lời phát nguyện đó, còn nhiều“ ẩn dụ” sâu kín, cần phải được tìm hiểu, phân tích hoặc đánh giá thêm… Có người luận giải : 48 lời phát nguyện của Tỳ Kheo Pháp Tạng chỉ là NHÂN. Vì lòng Từ Bi rộng lớn mà Vị Tỳ Kheo này phát nguyện để cứu chúng sanh. Nhưng ! Lời hứa là lời hứa còn Chân Lý hay Thực Tại thì vẫn là Chân Lý hay Thực Tại. Khi đắc Đạo trở thành Phật A-Di-Đà đạt Quả Vị Phật thì lại khác, phải trở về Thực Tại hay Chân Lý trong đó Luật Nhân Quả phải được tôn trọng đối với chúng sanh chưa chứng ngộ Vãng Sanh, còn mang đầy Nghiệp Chướng và Tham Sân Si! Lầm lẫn cho NHÂN Vị cũng là QUẢ Vị, thì không đúng với Thực Tế hay Chân Lý! Trong một Pháp hội, Đức Phật bảo mọi người hãy nặn sữa từ chiếc sừng của một con bò, hoặc nấu cơm từ cát… Kết quả: không ai có thể làm được việc này kể cả Đức Phật. Bởi vì phải theo đúng luật nhân quả. Sừng không có chứa sẵn sữa nên không có thể nặn ra sữa; còn cát là cát, cơm là cơm,trong cát không có cơm nên không thể nấu ra cơm! Thuở xưa có một vị Tăng hiểu lầm Nhân Quả rồi dạy cho chúng sanh cũng hiểu lầm và mê theo mình mà phải bị đọa làm 500 kiếp chồn, sau nhờ Thiền Sư Bá Trượng khai thị giải tỏa cho sự mê lầm “bất muội nhân quả” mà trở lại kiếp người, tiếp tục cuộc đời tu. Nói theo Pháp Thế Gian là “chí công vô tư” hay “Luật Nước” khác với “Lệ Nhà”. Còn nói theo Phật Pháp là cái thấy của Tỳ Kheo Pháp Tạng lúc “chưa chứng Đạo” khác với cái thấy của Tỳ Kheo Pháp Tạng “đã chứng Đạo” trở thành Phật A Di Đà! Chuyện thành Phật là do công đức tu tập riêng hay cái khả năng riêng của Ngài, Ngài có từ chối cũng không được. Bởi vì một khi có đủ công đức đạt Quả Vị Phật, dù có từ chối thì cũng là Phật; còn chuyện lời hứa hay lời phát nguyện của Ngài để cứu chúng sanh là một vấn đề khác. Dù thành Phật, Ngài không thể sửa đổi được Chân Lý hay Luật Nhân Quả!  

“Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không     (Ngộ rồi nghiệp chướng hóa  thành không

  Vị liễu ưng tu hoàn túc trái”                      Chưa ngộ, nợ xưa đành trang trải).

                                        (Thiền Sư Huyền Giác).

      Cõi Tây Phương Cực Lạc của Phật A-Di-Đà là do Tâm của Ngài với 48 lời nguyền mà hiện ra thành lập một Quốc Độ hay một Cõi Nước riêng của Phật A-Di-Đà. Nhưng muốn đến Cõi Nước đó cần phải có giấy phép “xuất cảnh” ở cõi Ta Bà, đó là luật Nhân Quả, phải hoàn tất hết mọi thủ tục “thuế quan” và hợp pháp! Thiền Tông khi chứng ngộ phải đạt đến Tâm Không hay Vô Tâm, Phật Tánh hiển bày, không còn Nghiệp Chướng Tham Sân Si, vì đã chuyển Nghiệp thành ba món Giải Thoát, tức là đã hoàn tất hết mọi thủ tục “thuế quan” và hợp pháp, có giấy phép “xuất cảnh” ở cõi Ta Bà để ‘‘nhập cảnh” vào cõi Niết Bàn! Đạt đến Tâm Không hay Vô Tâm, ngộ nhập Thể Tánh thì không còn Nghiệp, không còn Nhân Quả. A-Lại-Da-Thức (thức thứ tám) đã chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, ngộ nhập Bát Nhã; vì là Tâm Không, không còn Nghiệp nên không có “Bảy Sóng” (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức và Mạt-Na-Thức) trong Bát Thức nổi lên hiện hành trong Tâm, nên không có Gió Nghiệp thổi vào biển Luân Hồi… Trong khi đó, niệm Phật cầu Vãng Sanh, tuy tạm thời Tâm được an, nhưng Nghiệp Chướng vẫn còn nguyên : chưa chuyển được Nghiệp, Tham Sân Si vẫn còn nguyên : chưa chuyển thành ba món Giải Thoát. Cho nên tuy hình thức bên ngoài là Tâm an, nhưng thực chất bên trong Tâm vẫn động: “Bảy Sóng” vẫn luôn vận hành tạo Gió Nghiệp thổi vào biển Luân Hồi. Chỉ khi đạt được “Nhất Tâm Bất Loạn”, mặc dù còn Nghiệp, nhưng “Bảy Sóng” trong Tâm bị kềm chặt không thể nổi lên hiện hành thành Sóng Nghiệp hay Gió Nghiệp. Khi đó, tất cả Nghiệp Chủng đều bị trói chặt nằm im “vô tác” bất động như vật chết nên không còn mang năng lực tạo tác… Do đó thoát được luật Nhân Quả, có giấy phép “xuất cảnh” qua được cửa ải cõi Ta Bà, từ đây được đón rước dễ dàng vào Quốc Độ của Phật A-Di-Đà… Đạt được “Nhất Tâm Bất Loạn” như thế là tự “chứng ngộ” Vãng Sanh!

      Tuy nhiên, niệm Phật đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn trong lúc lâm chung không phải là chuyện dễ vì đủ thứ tạp niệm nổi lên hiện hành như thân thể đau nhức, mệt mỏi, tai ù, mắt mờ, miệng đắng, mê sảng, sợ sệt, trí lảng, không còn sáng suốt... Hơn nữa, nghiệp chủng vi tế nhiều đời nhiều kiếp trong thức A-Lại-Da nổi lên gây sóng gió bão tố, bị vô số “chủ nợ” bao vây tứ phía khó chạy thoát... khiến cho những câu niệm Phật yếu ớt không trấn áp nổi những cơn lốc xoáy dữ dội của Nghiệp Lực và Vô Minh! Do sáu căn không thanh tịnh nên rất khó tập trung để niệm Phật. Có người cho rằng mặc dù vậy, chỉ cần niệm cuối cùng cầu Vãng Sanh trong giây phút Cận Tử thì cũng được Vãng Sanh Cực Lạc, bởi vì niệm không thể trùng với nhau được. Nếu niệm cuối cầu Vãng Sanh trong giây phút Cận Tử hiện hành thì tạp niệm không thể chen vào nên được Vãng Sanh, vì niệm cuối lúc Cận Tử rất quan trọng trong việc đầu thai vào kiếp khác... Nếu Phật A-Di-Đà làm được điều này để rước chúng sanh về cõi Cực Lạc, thì Phật Thích Ca cũng có thể làm được vì cùng là Phật. Do đó tất cả những người tu Thiền chỉ cần niệm cuối trong lúc Cận Tử cầu Phật Thích Ca cũng đều về được Niết Bàn ! Điều này rất khó, Thiền Tông không tin như vậy, mà phải dựa vào sự “chứng ngộ” nơi Bản Tâm. Thiền Sư Huyền Giác nói: “Ra công cầu Phật mấy thuở thành?! ”. Tịnh Độ cũng có câu : “Bất dĩ thiểu thiện căn phước nhân duyên đắc sanh Bỉ Quốc”. Nghĩa là không thể lấy phước báu ít, căn lành ít, nhân duyên ít mà có thể Vãng Sanh Tây Phương được !

      Ngoại trừ sự “chứng ngộ” Vãng Sanh đạt quả vị Thánh như các Bậc A-La-hán, ngay khi còn sống đã biết chắc rằng mình sẽ về cõi Tịnh Độ, còn hầu hết chúng sanh đều không thể biết được điều này, chỉ “tin để mà tin” để được an tâm. Cũng có nhiều người đưa ra những bằng chứng Vãng Sanh, nhưng rất mù mờ, không có tính cách thuyết phục, có khi nặng nề về mê tín nhiều hơn… Cho nên có những người phản biện việc xác định niệm Phật 100% được Vãng Sanh và luận giải rằng: Đức Phật từng nói “hãy đến để mà thấy” tức là đến để mà thấy cái Thực Tại Chân Lý hiện bày bằng Thực Chứng, không phải chỉ ‘‘đến để mà tin’’. Chân Lý giống như  một Lâu Đài cổ nguy nga tráng lệ có tự đời nào không biết và cũng không biết do ai làm ra. Trên đường đi tìm Chân Lý bỗng nhiên Đức Phật tìm thấy nó xuất hiện giữa khu rừng hoang dầy đặc cây cối che khuất. Sau khi định vị Lâu Đài, Đức Phật trở về chỉ đường cho chúng sanh đến để thấy Lâu Đài đó. Lâu Đài này không phải do Đức Phật làm ra, Đức Phật chỉ là người “khám phá” ra nó. Mọi giá trị như đồ dùng, cây cảnh, nghệ thuật điêu khắc có trong Lâu Đài đều tự nó là như vậy như luật Nhân Quả, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo… là Chân Lý tuyệt đối có tự nhiên trong Lâu Đài Bát Nhã mà  Đức Phật không thể sửa đổi được nó. Đối với Phật A Di Đà cũng vậy, Ngài chỉ là người khám phá ra Lâu Đài cổ đó; mọi thứ đã có sẵn trong Lâu Đài, Ngài không thể sửa đổi được ! Ngài cũng không thể vì lời phát nguyện kia không độ được hết thảy chúng sanh về Cõi Nước của Ngài mà không làm Phật, bởi vì “Chân Lý là như vậy”! Điều này hoàn toàn khác hẳn với cái gọi là  “hãy đến để mà tin” , tức là chỉ có niềm tin suông mà không thấy không biết và đây là đa số truyền thống bản chất của các Đức Tin Thần Quyền của Ngoại Đạo, nó giống như “chiếc bánh ở trên bầu trời” (the pie-in-the-sky) người ta không thể nhìn thấy nó, không nếm được mùi vị của nó, không thể ăn được nó, chỉ “tin để mà tin” là có nó mà thôi ! Có nhiều người trước khi lâm chung thấy Phật A-Di-Đà hiện ra với nhiều Vị Bộ Tát đến đón… mọi người cho đây là bắng chứng Vãng Sanh Cực Lạc ?! Thật ra đây chỉ là ảo giác hay vọng tưởng, do nhân duyên niệm Phật, lòng ham muốn hay “tự kỷ ám thị” mà Tâm hiện ra Phật. Đại Sư Tăng Triệu có giải thích rõ điều này trong Bửu Tạng Luận. Thiền Sinh ngồi Thiền cũng nhiều lúc thấy Phật hay Tổ hiện ra cũng cho đó là vọng tưởng nên có câu : “Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ” ! Thật ra Phật A-Di-Đà không nói dối ; tuy nhiên những lời phát nguyện của Ngài lúc “chưa chứng đạo” có giới hạn là không thể sửa đổi được luật Nhân Quả một khi đã thành đạo; cho nên không thể độ hết tất cả chúng sanh còn mang đầy Nghiệp Chướng Tham Sân Si về cõi Nước của Ngài.

      - Ở đây không bàn đến đúng sai, tính xác thực hay không xác thực của luận giải phản biện ở trên và cũng không bàn đến đúng sai, về vấn đề niệm Phật A-Di-Đà có được Vãng Sanh 100% hay không, mà chỉ bàn về phần Công Đức nơi Tự Thân. Là Phật Con thì phải biết dùng trí tuệ phán đoán, phân tích thật kỹ Phật Pháp rồi mới dụng công tu hành, diệt tham sân si và ngã chấp nơi Tự Thân … Không nên ỷ lại mà phó thác hết mọi chuyện cho Phật mà mình thì không làm gì cả, chỉ cốt là cầu xin và chỉ  “tin để mà tin” để được an tâm như một vị thuốc an thần để rồi tự lừa gạt chính mình ! Ỷ lại vào “phước đức” nhiều như Lương Võ Đế, tạo dựng hàng ngàn ngôi chùa, nuôi hàng ngàn chư tăng,…mà không tạo được một chút nhỏ “công đức” nào nơi tự thân bằng cách dùng trí tuệ chuyển đổi tâm thức diệt tham sân si và ngã chấp thành ba món giải thoát… nên cũng chỉ là uổng công suông !  

“Giác tức liễu, bất thi công,                    (Biết là xong tất chẳng cần công,

  Nhất thiết hữu vi pháp bất đồng.          Thảy thảy hữu vi pháp chẳng đồng.

  Trụ tướng bố thí sanh thiên phước,      Của cho trụ tướng phước trời hưởng,

  Do như ngưỡng tiễn xạ hư không.       Ví như tên bắn nhắm hư không.

  Thế lực tận, tiễn hoàn trụy,                  Ðà bắn hết mũi tên rơi,

  Chiêu đắc lai sanh bất như ý”.             Kiếp sau hận cũ lại bời bời).

                                      (Thiền Sư Huyền Giác).

      Tạo phước đức nhiều cũng là điều tốt, nhưng cái chính yếu là công đức nơi tự thân mới có thể chuyển đổi được Nghiệp cũ. “Của cho trụ tướng phước trời hưởng” . Người đã tạo phước nhiều ở kiếp này hay nhiều kiếp trước thì giống như được hưởng phước trời. Tuy nhiên, như tên bắn lên hư không, hết đà lại rơi xuống, tức là hưởng hết phước rồi lại tới tai họa ! “Kiếp sau hận cũ lại bời bời ”. Chỉ có công đức của mình nơi tự thân thì mới chuyển được Nghiệp : “Lục thất nhân trung chuyển, ngũ bát quả thượng viên”. Tức là thức thứ sáu (Y’ Thức hiên hệ tới trí tuệ) và thức thứ bảy (Mạt Na Thức liên hệ tới ngã chấp) là nhân chuyển, thì ngũ thức (nhân, nhĩ, tỉ, thiệt, thân) và bát  thức ( A-Lại-Da) chuyển theo là Quả.

      Niệm Phật để cầu xin dành cho những người yếu đuối cạn cợt, gặp nguy hiểm hay giây phút sắp lâm chung, vì sợ chết mà phải niệm Phật để cầu xin, nhưng thường ngày chỉ biết chạy theo Pháp Trần với đủ thứ tham sân si... Niệm Phật trong trường hợp này chỉ dựa niềm tin vào tha lực tức là sự cứu độ của Phật để  được an tâm trong cuộc sống đầy bất trắc : sinh lão bệnh tử ; còn thật sự có được Vãng Sanh hay không là chuyện khác. Cũng khi đó, niệm hay hộ niệm có lợi ích là vào phút lâm chung để kiềm chế những Chủng Nghiệp ác trong A-Lại-Da Thức không trỗi dậy, mà bình Tâm với những Nghiệp thiện hay Ý Niệm thiện lành trong giây phút “Cận Tử” để được sanh về các cõi lành : Nhân, Thiên hoặc A-Tu-La, tiếp tục luân hồi, chưa hẳn là Vãng Sanh. Điều này Ngoại Đạo cũng có thể làm được vì có rất nhiều người Ngoại Đạo thường làm việc Thiện, không làm điều ác, hoặc ngay cả người thế gian không có Đạo cũng làm được… khi chết họ đi từ Chỗ Sáng về Cõi Sáng…  Niệm hay hộ niệm cho người Ngoại Đạo còn tùy theo duyên cơ nếu người ấy không tin Vãng Sanh hay không tin Phật A-Di-Đà mà niệm Phật ồn ào gây loạn Tâm hay Tâm sân vào phút lâm chung thì thật là tai hại! Còn “hộ niệm” trong trường hợp Tâm - Tâm tương ứng thì lại khác và điều này liên quan tới “Thiền” mà không phải là “Tịnh”. Chẳng hạn như thời Đức Phật còn tại thế, Mục Kiền Liên là một trong 10 Đại Đệ Tử của Đức Phật, ngồi Thiền và “nhập định” thấy Mẹ đang bị cực hình trong Địa Ngục A-Tỳ chịu nhiều đau đớn không cầm lòng được nên Ngài hỏi Phật làm cách nào để cứu Mẹ. Đức Phật chỉ cách nhờ thần lực của đông đảo Chư Tăng và của chính Ngài là người thân hộ niệm cho Mẹ. Hộ niệm ở đây không phải là niệm Phật hay đọc Kinh A-Di-Đà mà dùng “thiền định” để hộ niệm bằng cách Tâm truyền Tâm. Tâm của Ngài Mục Kiền Liên là chính, dễ tương ưng với Tâm của người Mẹ vì có cùng một thân. Tâm của đông đảo Chư Tăng và Tâm của Ngài Mục Kiền Liên trong “thiền định” có oai lực cảm ứng dung thông tác động đến Tâm của người Mẹ ở Cõi Địa Ngục làm cho Bà Mẹ nhìn thấy Con đang khóc lóc đau đớn khuyên can thương xót và cùng Chư Tăng hồi hướng cho Bà. Một lòng vì thương Con nhớ Con, một lòng vì cảm kích trước lòng Từ Bi của đông đảo Chư Tăng làm cho Tâm Bà chuyển hướng, hối hận, ăn năn, sám hối, buông xả, không còn lòng thù hận căm ghét, mà hướng tới Phật cầu giải thoát. Do Tâm chuyển (Lục thất nhân trung chuyển, ngũ bát quả thượng viên), bức màn Vô Minh và Nghiệp Chướng rơi rớt. trong giây phút hồi tâm với lòng thành thật sám hối, trực nhận cái Đạo Lý Buông Xả để Giải Thoát mà đột biến Bà được chuyển kiếp ngay trong một sát na về Cõi Trời. Tuy nhiên Bà vẫn không được Vãng Sanh Cực Lạc Quốc. Lên Cõi Trời là do Tâm chuyển, Nghiệp nặng rơi rớt, nhưng Nghiệp nhẹ vẫn còn, nên vẫn phải bị luân hồi trừ phi có duyên với Phật Pháp và chứng ngộ để đạt Vô Sanh Niết Bàn như Ngải Mục Kiền Liên !

2-Pháp Môn Tịnh Độ độ cho “Người Sống”:

- Niệm Phật nhất tâm bất loạn.

      Theo Kinh điển Pali của Phật Giáo Nam Tông và theo các chú sở A-Tỳ-Đàm có tất cả 5 cõi Tịnh Độ, nằm trong 16 cõi Phạm Thiên hữu sắc, là chỗ tái sinh của các bậc Thanh Văn Bất Lai. Những cõi ấy chỉ toàn là các vị Bất Lai và La Hán. Năm cõi Tịnh Độ này vẫn là cõi hữu sắc, có những lâu đài, hoa viên rất nghiêm trang… là dấu vết tối thiểu còn sót lại của cõi ngũ uẩn. Cõi thấp nhất là Vô Phiền (Aviha) có thọ mạng 1000 đại kiếp, cõi Vô Nhiệt (Atappa) 2000 đại kiếp, cõi Thiện Hiện (Sudassa) 4000 đại kiếp, cõi Thiện Kiến (Sudassi) 8000 đại kiếp, và cõi Sắc Cứu Cánh (Akanittha) có thọ mạng 16000 đại kiếp. Năm cõi Tịnh Độ này dành cho các vị đã chứng quả Thánh như: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán.

      Vãng Sanh vào các cõi Tịnh Độ này là cả một quá trình tu chứng công phu lâu dài: tạo thật nhiều phước đức công đức, nhiều căn lành diệt tham sân si chuyển hóa Tâm Thức như quả vị Thánh, quán tưởng sâu sắc bản chất Cõi Tịnh Độ. Điều tối quan trọng là PhảiNhất Tâm Bất Loạn: Niệm Phật cho đến Nhất Tâm Bất Loạn. Hoặc thực thi Bát Chánh Đạo và phải đạt tới Nhất Tâm là Chánh Định. Bất Loạn là giữ được Chánh Định như thế xuyên suốt thời gian ngồi Thiền, tụng Kinh, niệm Phật, ăn cơm, đi đứng nằm ngồi …

      Niệm Phật ở đây không còn là cầu xin nữa mà là niệm nơi Tự Tâm cho đến ‘‘Nhất Tâm Bất Loạn’’ là tự chứng Vãng Sanh đạt được quả vị Thánh. Tuy vẫn còn nhiều Nghiệp Chướng (trần sa hoặc) nhưng vì Tâm Bất Loạn, các Nghiệp này bị trói chặt, nằm im bất động, không còn năng lực tạo tác, nên vượt qua được vòng Nghiệp Chướng Nhân Quả, cắt đứt luân hồi được về cõi Tây Phương Cực Lạc hay Tịnh Độ của các bậc Thanh Văn Bất Lai…Tự Tâm cũng chính là Bát Thức ở tận đầu nguồn Tâm. Thức Thứ Tám hay A-Lại-Da-Thức cũng gọi là Tàng Thức vì nó ‘‘tàng trữ’’ vô số Nghiệp Chủng từ nhiều đời nhiều kiếp, là cái Vực Thẳm sâu kín chứa đủ thứ Nghiệp Chủng dưới sạng Sóng Nghiệp (Bảy Sóng : Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức và Mạt-Na-Thức) . Niệm Phật  cho đến ‘‘Nhất Tâm Bất Loạn’’, tuy còn Nghiệp, còn Tâm chưa đạt tới Vô Tâm để thấy Tánh, nhưng Bảy Sóng bị trói chặt nằm im bất động, nên Nghiệp Lực không thể trỗi dậy hiện hành trong A-Lại-Da-Thức, cho nên không thể tạo thành Gió Nghiệp thổi vào biển Luân Hồi, thoát được vòng Nghiệp Quả, được vào các cõi Tịnh Độ…

      - Ở đây cũng không phân biệt Kinh Điển Hán Tạng của Phật Giáo Bắc Tông hay Kinh Điển Pali của Nam Tông, cái nào đúng cái nào sai, mà chỉ dựa  vào lời khuyên của Đức Phật: “Y Kinh mà hiểu nghĩa thì oan cho ba đời Chư Phật’’. Cho nên khi xem Kinh không thể chấp vào văn tự suông mà phải suy xét, phân tích, truy cứu thật  kỹ theo chiều sâu với ý nghĩa toàn diện đen trắng hay những ẩn dụ sâu kín mà Đức Phật muốn gởi gắm và phải có  cái nhìn tổng thể hơn là cục bộ. Do đó, khi đi sâu vào ý nghĩa thâm áo trong lời phát nguyện, mới khám phá ra những điều vi diệu ngay trên cái danh hiệu A-Di-Đà. Lời phát nguyện thứ 11 của Phật A-Di-Đà nói rằng: “Một hành giả nào chỉ niệm 10 niệm danh hiệu Ta mà không Vãng Sanh Tây Phương thì ta nguyện sẽ không thành Phật”. Thật ra, mười niệm danh hiệu A-Di-Đà này không phải là niệm theo văn tự hay cái tên suông vì cái tên chỉ là giả danh không có một chút ý nghĩa, công đức hay hiệu năng hiệu lực diệu dụng nào cả. Đây không phải là cái tên giả danh suông mà là Bản Thể A-Di-Đà với vô lượng nghĩa thâm áo. Trong Kinh Lăng Nghiêm Bản Thể A-Di-Đà là cái Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ cũng là Bản Giác Minh Diệu và Tánh Giác Diệu Minh mà Đức Phật Thích Ca khai thị cho Tổ A-Nan, là nơi Tịnh Độ thanh tịnh. Do đó phải niệm bằng Tâm và phải là cái Tâm thanh tịnh Vô Lượng Quang và nếu đạt được Tâm thanh tịnh A-Di-Đà này thì chỉ cần 10 niệm thanh tịnh liên tục như thế thì Tự Tâm đạt tới cõi Tịnh Độ của Phật A-Di-Đà ! Như vậy, 10 câu niệm Phật này : thứ nhất là phải Nhất Tâm Bất Loạn’’, thứ hai là phải liên tục’’. Thực hiện mười câu niệm Phật này không phải dễ mà vô cùng khó khăn, thật  nhiều công phu, công đức và trí tuệ sâu dầy ! Bởi vì Tâm thường chạy theo lục trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp). Đang niệm Phật thấy hình tướng Phật hoặc cảnh bên ngoài hoặc trong Tâm mà không lìa được Sắc là loạn, nghe âm thanh chính mình hay nhiều người đang niệm mà không lìa được Thanh là loạn, ngửi mùi nhang trên bàn Phật mà không lìa được Hương là loạn, niệm Phật khô cả miệng lưỡi khát nước miệng đắng mà không lìa được Vị là loạn, đứng lâu hoặc quỳ mỏi cả thân mà không lìa được Xúc là loạn, niệm còn ghi nhớ trong ý mà không lìa được Pháp là loạn. Tất cả đều làm cho Tâm loạn ngay trong câu niệm Phật chỉ thấy toàn là Nghiệp mà không thể thấy được cảnh giới Phật A-Di-Đà. Giữa hai câu niệm Phật lại nghe một tiếng chuông, tiếng mõ hay bất cứ một tiếng động nào… không lìa được niệm, chạy theo âm thanh, câu niệm Phật bị “ thanh niệm” xen vào nên không còn liên tục. Giữa hai câu niệm Phật, vọng tưởng hiện ra, “vọng niệm” xen vào nên không còn liên tục. Giữa hai câu niệm Phật, cảm thấy mệt mỏi, buồn ngủ (hôn trầm) hay cảm nhận hơi thở ra vào…“thân niệm” xen vào nên không còn liên tục. Giữa hai câu niệm Phật, còn thấy mình  là người đang niệm Phật, “ngã niệm” xen vào nên không còn liên tục. Giữa hai câu niệm Phật, còn thấy mình chủ động niệm Phật và có động tác niệm Phật, cả thân tâm đều động, “động niệm”  xen vào nên không còn liên tục… Đây là những “Niệm Thô’’ dễ nhận diện, nhưng rất khó tiêu trừ làm cho câu niệm Phật bị gián đoạn không liên tục và loạn Tâm. Ngoài “Niệm Thô’’ lại còn “Niệm Tế’’ rất tinh vi, phải là những Bậc tu hành công đức sâu dầy trải nhiều chứng nghiệm mới hy vọng kềm chế được. Như đã luận giải ở trên, đó là Bảy Sóng (Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức và Mạt-Na-Thức) chứa trong A-Lại-Da-Thức. Nghiệp Chủng chứa từ nhiều đời nhiều kiếp tàng trữ trong A-Lại-Da (Thức Thứ Tám) dưới dạng Sóng Nghiệp tức Bảy Sóng. Mỗi một Sóng hay một chu kỳ Sóng là một niệm Vô Minh. Có vô số niệm hay sóng vi tế như  thế chứa đầy trong Tâm (A-Lại-Da) tuy chưa nổi lên hiện hành nhưng vẫn tự do phục binh chờ sẵn ẩn nấp nơi đáy Tâm sẵn sàng “nổi loạn’’. Nhiều lúc Tâm lặng yên như mặt nước biển, nhưng thật ra đang có những dòng nước chảy ngầm dưới đáy là vô số những Sóng Nghiệp vi tế đang âm ĩ sâu kín  nơi đáy Tâm chưa được chuyển hóa , tiêu hóa hay kềm chế. Làm sao cột trói chặt được những Sóng Nghiệp vi tế này để chúng không còn tự do nổi lên hiện hành hoặc chuyển hóa, tiêu hóa được chúng ; khi đó Tâm mới  thực sự lặng yên hay bất loạn. Đây phải là một quá trình công phu lâu dài, công đức dày dạn, trí tuệ thâm áo do chính nơi Tự Tâm. Chỉ cần Niệm Phật được 10 niệm Liên Lục và Nhất Tâm Bất Loạn như thế là đạt tới Tâm thanh tịnh A-Di-Đà, chứng ngộ Vãng Sanh đạt quả vị Thánh, không cần phải đợi Đức Phật A-Di-Đà tiếp đón, mà tự do muốn vào các cõi Tịnh Độ hay Tây Phương Cực Lạc lúc nào cũng được như các Bậc A-La-Hán ! Bởi vì khi đạt được “Nhất Tâm Bất Loạn’’ nơi Tự Tâm thì tương ưng với cõi Tịnh Độ hay Tây Phương  Cực Lạc nên dung thông vô ngại, cảnh Cực Lạc tức khắc hiện bày. Tóm lại, Pháp Môn Tịnh Độ và niệm Phật A-Di-Đà chỗ rốt ráo không phải là niệm danh hiệu suông để cầu tha lực bên ngoài mà là niệm nơi Tự Tâm thấu suốt Tâm với Bản Tánh A-Di-Đà… là một Bửu Pháp của Phật chẳng kém Thiền Tông !

       Trước đây vì thời thế mà Pháp Môn Tịnh Độ có lúc bị xuống cấp chỉ là một “Pháp Chết” chuyên lo việc ma chay cúng tế dành cho “Người Chết” và có tính cách mê tín. Ngày nay, ở một mức độ tích cực, độ cho người chết và độ luôn cho người sống, khi đó Tịnh Độ là một “Pháp Sống” dành cho “Người Sống” và lấy “Pháp Sống” này độ luôn cho “Người Chết”. Những hình thức tiêu cực, rườm rà, mê tín, thương mại hay nặng tính cách thế gian… nên được đơn giản hóa … trả lại sự trong sáng và thanh tịnh cho Tịnh Độ. Vì nếu không theo được dấu chân Phật, Tổ và Thiền Sư trên con đường giải thoát sinh tử luân hồi ngay trong kiếp này, hay con đường của các bậc Thanh Văn Bất Lai, chứng Vãng Sanh, cắt đứt luân hồi, về các cõi Tịnh Độ hay Tây Phương Cực Lạc, thì cũng độ cho chúng sanh cõi Ta Bà này thoát khỏi ba đường ác trong lục đạo luân hồi ! Hay ít ra cũng tạo duyên lành về Phật Pháp và độ cho những chúng sanh còn vô minh u tối, mê muội bản tâm, ái nghiệp sâu dày…một khi đã hồi Tâm tỉnh thức hay bị thất bại trên đường đời, gặp chỗ khốn cùng trong đau khổ… có con đường để giải thoát. Tịnh Độ có chỗ đứng xứng đáng trong Phật Pháp, dễ độ Thế vì bình dân, dễ hiểu, dễ đi sâu vào quần chúng hơn là Thiền Tông. Tuy nhiên cũng dễ bị Thế Gian Pháp lấn áp, nếu không khéo sẽ trở nên mê tín và lạc lỏng.  Nhập Thế để độ Thế chớ không phải để cho Thế độ rồi mắc kẹt nơi Pháp Thế Gian ! Riêng đối với người xuất gia, Pháp Môn Tịnh Độ là cả một quá trình tu chứng công phu lâu dài và đặt nặng trên công đức tu hành nơi Tự Tâm và Trí Tuệ, còn việc ma chay cúng lạy tế lễ hay các pháp thế gian khác chỉ là việc phụ. Đối với Phật Tử không phải ỷ lại chỉ cầu tha lực niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà 10 niệm là được Vãng Sanh! Dù cho có niệm 1 triệu lần, tụng một ngàn quyển Kinh, đem hết của cải tài sản tạo phước đức bằng cách xây dựng cả ngàn ngôi chùa, cúng dường hàng ngàn Chư Tăng như Vua Lương Võ Đế mà không có một chút nhỏ công đức nơi Tự Thân hay Tự Tâm bằng trí tuệ để diệt trừ phiền não, tham sân si và ngã chấp thì cũng chẳng được kết quả gì ! Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy : cúng dường cho một trăm, một ngàn, một vạn… bá tánh không bằng cúng dường cho một Vị Sa Di ; cúng dường cho một trăm, một ngàn, một vạn… Vị Sa Di không bằng cúng dường cho một Vị Bồ Tát; cúng dường cho một trăm, một ngàn, một vạn Vị Bồ Tát… không bằng cúng dường cho một Vị Phật ; cúng dường cho một trăm, một ngàn, một vạn Vị Phật… không bằng cúng dường cho một “Đạo Nhân Vô Tu Vô Chứng”. Đạo Nhân Vô Tu Vô Chứng này chính là Phật Tánh nơi Tự Tâm của chính mình : “tức Tâm tức Phật”. Cúng dường cho Phật Tánh nơi Tự Tâm của chính mình, làm cho Phật Tánh “thức dậy” thì tự mình đã là Phật rồi, không cần phải cầu Phật ở bên  ngoài. Điều này Đức Phật Thích Ca đã khám phá ra được khi Ngài đạt Chánh Đẳng Chánh Giác : “Ta là Phật đã thành, tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành”, vì tất cả chúng sanh đều sẵn có Phật Tánh bình đẳng nơi Tự Tâm ! Cho nên là một “Pháp Sống”, Pháp Môn Tịnh Độ vận dụng nơi “Tự Tâm” công phu rất nhiều không phải chỉ biết hay ỷ lại vào câu Niệm Phật để cầu xin Phật A Di Đà bên ngoài độ cho mình về Cõi Tây Phương Cực Lạc ; Tịnh Độ cũng vận dụng rất nhiều trí tuệ để quán chiếu, suy xét, phân tích…nhận diện chính xác pháp trần để không bị ô nhiễm, thấu rõ Kinh Điển sâu sắc rồi mới áp dụng tu hành như lời Phật dạy. Đức Phật từng nói: Đừng tin những gì do Kinh sách ngày xưa để lại, đừng tin những gì dù đó là lời nói của một vị Giáo Chủ nổi tiếng,…ngay cả lời nói của Ta cũng đừng nên tin vội…mà phải biết suy xét, phân tích cho thật kỹ… thử nó như thử vàng, đập nó vào đá, nấu chảy nó… Đây quả là một lời khuyên quý báu của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, giúp cho chúng sanh khỏi bị lạc lầm mà rơi vào sự mê tín hay cuồng tín.  

3-Tịnh Độ là Tự Tánh Di  Đà:

- Niệm Phật trong Vô Niệm Vô Tướng.

      Nếu hiểu Phật A-Di-Đà một cách rốt ráo rộng rãi phóng khoáng thì A-Di-Đà có nghĩa là “Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ”. Vô Lượng Quang là Ánh Sáng Bát Nhã với Trí Tuệ vô lượng cũng chính là Chân Tâm. Vô Lượng Thọ là cái không sanh diệt cũng chính là Tánh, Tự Tánh, cái Không, Bát Nhã hay Niết Bàn… Vậy A-Di-Đà cũng chẳng khác gì Tâm Tánh, Phật Tánh hay Tự Tánh của Thiền Tông dung thông với tất cả Tánh và trùm khắp. Tự Tánh Di Đà là Chân Tánh bình đẳng sẵn có ở trong thân tất cả chúng sanh, ở ngoài thân và trùm khắp Hư Không vô biên, là cái siêu việt nhất, cái rốt ráo nhất của vũ trụ càn khôn cũng chính là cái “Không” vi diệu. Tự Tánh Di Đà là Viên Ngọc Ma Ni dụ cho Tánh hay Tự Tánh, Bát Nhã Chân Như hay Niết Bàn, là cái “Vô Lượng Thọ” chiếu ra cái Ánh Sáng Vô Lượng của Viên Ngọc là Ánh Sáng Bát Nhã, là cái Ánh Rõ, hay cái Vô Vi, là Chân Tâm hay Tâm Gốc là cái “Vô Lượng Quang”. Như vậy Tự Tánh Di Đà là cái Vô Lượng Quang  Vô Lượng Thọ: Chân Tâm và Gốc Tánh. Cái Ánh Sáng Vô Lượng hay Ánh Sáng Bát Nhã, Ánh Sáng Trí Tuệ Vô Lượng là Chân Tâm. Cái bất sanh bất diệt Vô Lượng Thọ, hay Chân Như Bát Nhã Niết Bàn là Gốc Tánh. Cái mà Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: “Trực chỉ nhân Tâm kiến Tánh thành Phật” chẳng khác gì với Thiền Tông!

“Cõi Ta Bà có tòa Cực Lạc,

  Dòng sông Mê, Biển Giác chẳng xa

  Y theo giáo pháp Thích Ca

  Tự nhiên Bản Tánh Di Đà phóng quang”.

      Hiểu Tịnh Độ là Bản Tánh Di Đà một cách phóng khoáng như thế, thì Niệm Phật lại có thêm nhiều lợi ích khác. Phật Tử hay Tăng Ni thường chào hỏi hay gặp bất cứ một sự việc gì thường dùng hai chữ: “Mô Phật” thật ngắn gọn, hoặc bốn chữ “A Di Đà Phật” hoặc trọn lục tự Di Đà : “Nam Mô A Di Đà Phật”. Niệm Phật ở đây không còn chấp vào hình tướng Phật A Di Đà. Do đó có thể dùng hai chữ ngắn gọn là “Mô Phật” ám chỉ Vô Lượng Phật bình đẳng khắp mười phương cũng là cái Không vi diệu ngay trước mắt và trùm khắp và khi đó đâu đâu cũng là Phật! Cũng như dùng bốn chữ: “A Di Đà Phật” mà cũng không chấp vào cái tướng Phật A Di Đà mà chính là cái “Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ” là cái Tự Tánh Di Đà của chính mình bắt đầu từ đầu nguồn Tự Tâm, ngộ nhập Bản Tánh Di Đà  trùm khắp là cái Hư Không vô ngại hay Chân Không vi diệu ở trước mắt. Niệm cả câu: “Nam Mô A Di Đà Phật” là qui về nương tựa chỉ sống với cái Bản Tánh Di Đà này là cái Không vô sở trụ rốt ráo và trùm khắp (Qui Không), niệm cho đến Vô Niệm Vô Tâm để hòa nhập với cái Không vi diệu này! Hiểu như thế thì Niệm Phật dù là chỉ hai chữ “Mô Phật”, bốn chữ “A Di Đà Phật” hay lục tự Di Đà: “Nam Mô A Di Đà Phật” đều có nhiều lợi ích cao tột. Và cái lợi ích sơ đẳng nhất, thực tế nhất, nhưng cũng rất quan trọng, tránh được sự quấy nhiễu của trần lao là tập “Nhẫn”, tập “Nhịn” để đối trị với trần lao diệt tham sân si ngã chấp và đi xa hơn là “Hưu” (ngưng) và cuối cùng là “Mặc” thân tâm được an định.

“Nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận 

  Nhiêu nhiêu nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu 

  Mặc mặc mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc

  Hưu hưu hưu, cái thể công danh bất tự do”.

(Thân nhẫn, miệng nhẫn, tâm (hay ý) nhẫn thì những điều trái chủ oan gia từ đây dứt hết. 

Thân nhịn, miệng nhịn, tâm nhịn thì ngàn tai muôn họa đều tiêu tan.

Thân nín, miệng nín, tâm nín thì cảnh giới thần tiên vô hạn cũng do đây mà được.

Thân ngưng, miệng ngưng, tâm ngưng thì danh đời dù lớn lao nhất trên thế gian cũng không làm gì được ta). 

      Như vậy để đạt được “Lý” là chứng Vãng Sanh Cực Lạc thì phải có câu niệm Phật là “Sự”. Phải có “Sự” thì “Lý” mới đạt. Lý  không Sự thì chỉ là Lý rỗng, Sự không Lý thì chỉ là Sự cùng! Từ hai chữ “Mô Phật” đơn giản đến bốn chữ “A-Di-Đà-Phật” rồi lục tự Di-Đà: “Nam-Mô-A-Di-Đà-Phật” với bản nghĩa qui về nương tựa vào Bản Tánh Di Đà nơi Tự Tâm đều có công năng diệt trừ phiền não tham sân si ngã chấp. Niệm Phật để Nhẫn, tránh những điều trái chủ oan gia. Niệm Phật để Nhịn, tránh ngàn tai muôn họa đến với chính mình. Niệm Phật để Ngưng, tức là ly Pháp Trần, danh đời dù lớn lao nhất trên thế gian cũng không làm gì được ta. Niệm Phật để Tịnh, Tâm thanh tịnh đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn để về với Cõi Phật! Câu niệm Phật đầu tiên thì thô và có vẻ vô nghĩa, nhưng niệm thường lại thấy tế và có ý nghĩa vì trừ được nhiều phiền não lậu hoặc cũng giống như ngồi Thiền. Thoạt đầu thì niệm bằng âm thanh sắc tướng có vẻ cầu xin nương vào tha lực của Phật A-Di-Đà, nhưng từ từ buông âm thanh buông sắc tướng, không còn nương tựa vào Phật A-Di-Đà bên ngoài mà nương tựa Bản Tánh Di-Đà nơi Tự Tâm. Càng niệm sâu thì đạt đến Vô Tâm, thì Đại Tâm Đại Ứng, là cái Vô Lượng Quang Vô Lượng Thọ, là Viên Ngọc Ma Ni chơn Tâm gốc Tánh, cái Không rốt ráo hay Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa! Câu niệm Phật A-Di-Đà từ thô tới tế đạt đến Bản Giác Minh Diệu trong Kinh Lăng Nghiêm, là cái Vô Lượng Quang Vô Lượng Thọ trùm khắp thế giới Hoa Nghiêm, bí áo của Kinh Hoa Nghiêm, cốt tủy của Kinh Pháp Hoa… là kim chỉ nam cho các Bậc Bồ Tát để không bị lạc đường. Bởi vì tất cả đều Qui Không: “Sắc tức thị Không”, là cái Hư Không vi diệu trùm khắp vô biên ứng cơ sinh ra Hoa Tạng Pháp Giới: “Không tức thị Sắc”, là Tấm Bản Đồ Ma-Ha-Bát- Nhã-Ba-La-Mật-Đa! 

      Bản Tánh Di Đà cũng chính là Pháp Thân của tất cả chúng sinh trùm khắp cả Đông Tây Nam Bắc nơi nào cũng có chiếu sáng khắp mười phương, là vầng trăng ngự giữa trời cao rộng, là Tánh và chiếu sáng trùm khắp bằng cái ánh sáng vi diệu của nó tức là Tâm. Như một vầng trăng hiện trên mặt nước sông hồ thành ra vô số trăng: “Một là Tất Cả”, Tánh Phật thể nhập trong tất cả chúng sinh bình đẳng và trùm khắp. Cũng vậy, Tánh Phật trùm khắp hiển hiện trong mỗi một chúng sanh “Tất Cả là Một”. Từ cái sáng rõ của Tâm (cái riêng sáng hiện bày rõ ràng hay cái Rõ) mà nhận ra Tánh và Tánh này chính là Bản Tánh Di Đà, không cần phải đi đâu xa vì nó hiện diện trong mọi chúng sinh và trùm khắp mười phương.

“Tâm nội Di Đà tử mạc khu                             (Di Đà vốn thật Pháp Thân ta

  Đông Tây Nam Bắc, Pháp Thân chu              Nam Bắc Đông Tây khắp chói lòa

  Trường không chỉ kiến cô luân nguyệt          Nam Bắc Đông Tây khắp chói lòa

  Sát hải trừng trừng dạ mạn thu”.                  Trăng thu ngự giữa trời cao rộng

            (Bài kệ “Thị tu Tây phương Nghiệp”của Tuệ Trung Thượng Sĩ)

      Tự Tánh hay Tự Tánh Di Đà là ở nơi Tự Tâm đạt đến Vô Vi tức là tận đầu nguồn Tâm và huốt khỏi Tâm: Tâm mà Phi Tâm. Khi đó Niệm Phật là Tự Tánh Di Đà Niệm Phật, còn sáu căn thì không khởi một niệm, nghĩa là Chân Như Tự Tánh Niệm Phật, Phật Tánh hiện bày thấy được Tự Tánh. Lúc đó thì  “Vô-Niệm” là Niệm, “Vô-Thiền” là Thiền: không chấp vào tướng Ngồi Thiền hay tướng Niệm Phật. Niệm Phật không “âm thanh”,không “sắc tướng”, không “cầu xin”, không chấp tướng Phật A-Di-Đà, không chấp tướng Phật Thích-Ca, dù đi đứng nằm ngồi hay đang làm việc ở trong “Động” “Bất Động” dù thân và cảnh đang ở nơi “Tướng”“Vô Tướng”; khi đó Phật là Thực Tướng Vô Tướng rốt ráo và “Niệm Phật” chính là  “Vô Niệm”! Trong cái “Vô Niệm” “Niệm” sâu thẫm này tất cả sum la vạn tượng, sơn hà đại địa đều đồng loạt Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng. Nhưng Niệm Phật mà Phi Phật, Niệm Pháp mà Phi Pháp, Niệm Tăng mà Phi Tăng. .…là Bát Nhã Chân Như đang niệm, sum la vạn tượng đồng loạt mở toang con mắt Bát Nhã trùm khắp Hư Không: “Đại Địa quần sanh nhãn hoát khai”, đâu đâu cũng là Bát Nhã, Niết Bàn hay Cực Lạc… Tất cả đều bất nhị, bình đẳng trong vô tướng, tịch diệt vô thân trong Vô Ngã, dung thông trong Chơn Nhất mà chưa từng rời một Niệm và ngôi Tam Bảo là cái Không rốt ráo đồng với Hư Không rỗng suốt trùm khắp vô biên! Như vậy, cái rốt ráo sâu thẫm và phóng khoáng của Pháp Môn Tịnh Độ là Niệm Phật trong Vô Niệm Vô Tướng chẳng khác với Thiền Tông, là Vô Niệm của Lục Tổ Huệ Năng là Tự Tánh Chân Như hay Tự Tánh A-Di-Đà khởi niệm. Tự Tánh Di Đà này ở trong thân, ở ngoài thân, là cái Không ở ngay trước mặt  rỗng suốt, trống  lặng, phi vật phi Phật phi phàm, bình đẳng, không sinh diệt, dung thông vô ngại và trùm khắp Hoa Tạng Pháp Giới….

      Tóm lại, Pháp Môn Niệm Phật trong Tịnh Độ Tông từ thấp lên cao, niệm từ âm thanh sắc tướng tập trung cả sáu căn, cho đến Nhất Tâm Bất Loạn, rồi huốt khỏi Tâm đạt đến Vô Vi sáu căn không còn niệm mà Chân Như Tự Tánh niệm Phật đạt đến Vô Niệm Vô Tướng  thấy Tánh thành Phật là cái niệm trong Vô Niệm Vô Tướng của Thiền Tông. Tịnh và Thiền lại gặp nhau ở điểm rốt ráo! Như vậy cần gì phải phân biệt Tịnh Độ với Thiền Tông; bởi vì trong Tịnh có Thiền, trong Thiền có Tịnh. Cả hai đều đạt tới cái mục đích rốt ráo là cái Không cũng là Bản Tánh Di Đà, là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Chỉ có một điều là Thiền thì đi tắt, nhanh và gọn, còn Tịnh thì cứ thông thả mà đi… nhưng cũng tới đích!

      Cho nên niệm Phật phải đi từ thô đến tế, và phải lên lớp không thể cứ ôm chấp ở một mức độ thô thiển chỉ biết ỷ lại vào câu niệm Phật suông, chấp tướng Phật A-Di-Đà bên ngoài để cầu xin rồi tin chắc là sẽ được Vãng Sanh, mà không biết qui về nương tựa Bản Tánh A-Di-Đà thâm áo nơi Tự Tâm, để lo rèn luyện trí tuệ và công đức nơi tự thân, tạo nhiều duyên lành, chuyển hóa Tâm Thức, diệt tham sân si ngã chấp… Niệm thô thiển và cứ ôm chấp danh tướng như thế dễ đi đến chỗ mê tín, không thể khẳng định là được Vãng Sanh! Cũng không thể cho rằng Thiền Tông thì không có ai chứng Đạo vì tin rằng đây là thời Mạt Pháp?!

      Dù có chứng thì người thực sự chứng Đạo cũng rất ít khi lộ diện, vì họ không tham danh lợi ồn ào của thế gian, tùy duyên cơ hay thời thế mà xuất xử, như Lục Tổ Huệ Năng ẩn nơi nhóm thợ săn trong rừng suốt 15 năm mới ra độ chúng sanh. Nhiều vị thấy chúng sanh mê muội nặng nề, khó giáo hóa thì mai danh ẩn tích không ai biết đến, hoặc thị tịch nhập Niết Bàn… Đối với Thiền Tông, vì muốn đi tắt đi nhanh trong một kiếp hoặc một số kiếp không dài lắm, cho nên có nhiều khó khăn chướng ngại, nhất là chỉ dựa vào tự lực và trí tuệ nhiều hơn là tha lực bên ngoài. Tuy nhiên, đã có Phật, có Tổ đi trước chỉ đường, cái Chủng Tử Phật Tánh sẵn có, Tấm Bản Đồ Bát Nhã ở trong tay, cái “Bí Quyết” vào cửa “Không” của Phật, Tổ và Thiền Sư còn giữ lại trong A-Lại-Da-Thức, nếu đời nay chưa chứng, đường đi chưa tới đích, thì vẫn tiếp tục phần còn lại hay cái quãng đường còn lại ở đời sau…

      *Phật Giáo Tây Tạng có Tông phái KAGYU thay vì gọi là Tánh, Tự Tánh, Phật Tánh, Tự Tánh Di Đà, Bát Nhã, Thực Tướng, cái Không hay Chân Như, Bản Tế… thì Tông này gọi là “Đại Thủ Ấn” (Mahamudra) là cái “rốt ráo” để ngộ nhập và chứng đạo chẳng khác gì Thiền Tông! Hãy xem lời khẩu truyền “mật” của Vị Sơ Tổ TILOPA truyền lại cho Vị Tổ thứ hai là NAROPA được khám phá ở tu viện Gyalwa tại Rumtek, Sikkim (Tây Tạng). (Bản dịch bằng tiếng Anh của Kunzang Tenzin do Vô Huệ Nguyên, Việt dịch; người viết chỉ hiệu đính hai chữ (“Không Gian” thành “Hư Không”). 

Đại Thủ Ấn:

Chí tâm đảnh lễ 84 Đại Thành Tựu Giả!
Chí tâm đảnh lễ Đại Thủ Ấn!
Chí tâm đảnh lễ Kim Cang Thánh Nữ!

 

1-Đại Thủ Ấn không thể truyền dạy. Nhưng Naropa, con là kẻ thông minh xuất chúng,

Con đã trải qua bao khổ hạnh,

Với lòng khoan dung nhẫn nại trong đau khổ và hết lòng với Đạo Sư,

Hỡi con yêu dấu, hãy cất giữ mật truyền này vào tim con.

 

2-Có gì nâng đỡ Hư Không bao la không? Nó tựa vào đâu?

Giống như Hư Không, Đại Thủ Ấn chẳng tựa vào đâu;

Con hãy thảnh thơi và an định trong thanh tịnh,

Hãy nới lỏng và buông bỏ mọi ràng buộc.

 

3-Khi nhìn chăm chú thấu suốt vào bầu trời trống rỗng thì nhãn quan chấm dứt;

Cũng như thế, khi Tâm tự nhìn thấu Tâm

Thì chuỗi lan man và dòng ý niệm chấm dứt

Lúc đó là Đại Ngộ.

      Đại Thủ Ấn cũng giống như Hư Không rỗng không trong suốt, vô sở  trụ, trùm khắp, như như bất động và hoàn toàn thanh tịnh. Do đó phải thảnh thơi và an định trong thanh tịnh, buông bỏ hết mọi ràng buộc của thế gian thì mới có thể “làm bạn” và hòa nhập được với nó. Điều này Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng từng nhắc nhở :

“Cũng vì ham muốn phải long đong,

  Ném quách mà ra khỏi bụi hồng.

  Buông thỏng hai tay lên Phật Tổ,

  Một lần phủi giũ, một lần xong”.  

      Khi nhìn chăm chú thấu suốt vào Hư Không trống rỗng trong suốt không có một vật, thì nhãn quan chấm dứt, nhãn thức không còn. Cũng vậy, khi Tâm tự nhìn thấu Tâm thì Biển Sóng ý niệm lặng yên : Sóng về với Nước, lúc đó là Đại Ngộ. Điều này cũng chẳng khác gì khai thị của Tổ Đạt Ma : “Trực chỉ nhân Tâm, kiến Tánh thành Phật”. Hay khai thị của Thiền Sư Trương Chuyết : “Nhất niệm bất sanh, toàn thể hiện”. Vì khi chuỗi lan man và dòng ý niệm chấm dứt, Tâm không còn vọng tưởng và lặng yên như Gương thì bắt đầu chiếu sáng và Tánh hiển bày, cũng là lúc Đại Ngộ…

4-Như sương mù buổi sáng biến mất trong khí mỏng,

Chẳng đi đâu nhưng tan biến hết,

Những làn sóng ý niệm, xuất hiện trong tâm, rồi tan biến,

Đó là lúc con ngộ ra Chân Tính của Tâm.

      Sương mù là hơi nước có trong không khí, sau khi đọng lại thành những giọt nước trên cành cây ngọn cỏ, gặp ánh nắng mặt trời thì tự tan biến, trở về với không khí hoặc tiếp tục đọng lại thành nước, trả lại bầu trời trong. Làn sóng ý niệm hay vọng tưởng cũng vậy, xuất hiện trong Tâm rồi tan biến trở về Gốc Tâm. Lúc này Tâm tự nhìn thấu Tâm trong suốt không có một vật lặng yên như Gương, Tâm trở về Chân Tính của Tâm hay là Bản Thể Tâm cũng gọi là Tâm Bản Nhiên, bắt đầu chiếu sáng. Ngộ nhập ánh sáng này là ánh sáng trí tuệ và vượt thoát luân hồi.

5-Hư Không thật chẳng có mầu chẳng có hình dạng

Nên chẳng nhuốm đen hoặc trắng;

Cũng như vậy, Tâm Bản Nhiên không sắc không tướng

Nên không thể là đen hay trắng.


6-Bóng tối vô tận chẳng có sức

Làm đen tối tim sáng mặt trời;

Cũng thế, những kiếp luân hồi vô tận chẳng có sức

Che lấp nổi sự trong sáng của Tâm Bản Nhiên.


7-Dù Hư Không được gọi là “trống không”,

Nhưng thực ra làm sao diễn tả;

Dù Tâm Bản Nhiên được gọi là “trong sáng”,

Nhưng đó chỉ là ngôn từ.

      Như đã giải thích ở phần hai về “Tâm và Tánh”, lấy thí dụ Viên Ngọc Ma Ni để nói về Tánh, Ánh Sáng do Viên Ngọc chiếu ra để nói về Tâm. Con đường của Tâm đạt tới Tánh là con đường giác ngộ, như Tổ Bồ Đề Đạt Ma khai thị : “Trực chỉ nhân Tâm kiến Tánh thành Phật”. Tâm Bản Nhiên ở đây Tổ TILOPA muốn nói đến Tâm ở tận đầu nguồn Bản Thể của Tâm và Như Nhiên, có thể gọi đây là Tánh hay Viên Ngọc Ma Ni. Khi phân ra làm hai phần Thể và Dụng : Viên Ngọc Ma Ni hay Tánh là Thể, Ánh Sáng do Viên Ngọc chiếu ra hay Chân Tâm là Dụng, thì dễ hiểu và thuận lý hơn. Con đường Tâm từ Ngọn cho đến Gốc Tâm là Dụng, Gốc Tâm hay Chân Tâm lại chiếu ra cái Bóng của nó sinh ra càn khôn vũ trụ sum la vạn tượng hiện đầy trong Hư Không : “Nhất thiết duy Tâm tạo”. Tâm cũng giống như một “Tàng Cây” to, có Gốc thì bất động, không sinh diệt… còn Ngọn như cành và lá thì động và sanh diệt. Ngay Gốc Tâm là cái cửa Vô Vi, vừa huốt khỏi mọi hình tướng của Tâm là Gốc Tâm hay Chân Tâm chính là cái Rõ hay Ánh Sáng của Viên Ngọc hay Mặt Trăng Thứ Hai hay cái Cửa Vô Vi này nhảy thẳng vào Tánh hay Viên Ngọc thì cái Rõ không còn mà là cái Trong rồi cái Không ! Tạm chia làm 3 lớp cửa là Cái Rõ, Cái Trong rồi Cái Không là tận cùng rốt ráo chính là Chân Như Bát Nhã. Tổ TILOPA gọi đây là Tâm Bản Nhiên là Bản Thể hay Chân Tánh của Tâm. Như vậy có thể gọi Tâm Bản Nhiên là Tánh, cũng giống như Tánh hay Tự Tánh : không sinh diệt, không màu sắc, không hình tướng, luôn luôn trong sáng. Cũng như Hư Không, nó rỗng rang, trống không, nhưng lại vi diệu, không làm sao diễn tả được. Những kiếp luân hồi vô tận không có sức che lấp nỗi sự trong sáng của nó. Tâm Bản Nhiên hay Tánh này lại biến hóa vô cùng, ở trong thân, ngoài thân, trùm khắp và bình đẳng hòa nhập trong tất cả Chúng Sanh cũng như Vạn Pháp và Hư Không. Ở trong thân gọi là Phật Tánh, Tự Tánh hay Tự Tâm. Dù cho vô số kiếp luân hồi có che lấp nó trong bóng tối Vô Minh dày đặc nhưng một khi nó được khơi dậy thì chiếu sáng khắp mười phương !

8-Tâm Bản Nhiên giống như Hư Không;

Nó bao trùm và ôm trọn mọi vật trong ánh mặt trời.

Hãy cứ yên lặng và thoải mái trong thanh thản hồn nhiên,

Hãy lắng im để âm thanh dội vang vang dội,

Hãy để Tâm con yên tịnh và theo dõi sự tận cùng của muôn thế giới.


9-Thân xác thật ra trống rỗng như cây sậy,

Và Tâm, như Hư Không thanh khiết, hoàn toàn không tư tưởng:

Hãy thảnh thơi trong thực tính mà chẳng buông bỏ hay kiểm soát

Tâm không đối tượng chính là Đại Thủ Ấn

Con hãy thực hành miên mật thích nghi, rồi con sẽ ngộ.

      Hư Không trống rỗng là cái mà Thiền Sư để ý tới, nó là Chân Tâm (Mặt Trăng Thứ Hai, Ánh Sáng của Viên Ngọc Ma Ni) hay là Gốc Tánh (Mặt Trăng Thật, Viên Ngọc Ma Ni) tùy theo mức độ chứng ngộ của hành giả. Chưa chứng được cái Hư Không này thì Hư Không vẫn là Hư Không vẫn là Vọng Tưởng mặc dù thấy nó như vô tướng, bất động, trùm khắp và không sinh diệt.

      Tổ Sư thứ 7 BÀ TU MẬT (Vasumitra) khai thị : 

“Tâm đồng HƯ KHÔNG giới

  Thị đẳng HƯ KHÔNG PHÁP

  Chứng đắc HƯ KHÔNG thời

  Vô thị vô phi pháp”.

      Tổ TILOPA so sánh Tâm Bản Nhiên cũng giống như Hư Không, nó bao trùm và ôm trọn mọi vật trong vũ trụ bao la. Hãy yên lặng và thoải mái trong thanh thản hồn nhiên, lắng im để âm thanh dội vang vang dội, để Tâm yên tịnh và theo dõi sự tận cùng của muôn thế giới thì tất cả từ từ mờ nhạt lặng chìm và mất dạng trong Hư Không. Thân xác cũng vậy, trống rỗng như cây sậy rồi cũng hòa nhập vào Hư Không. Và Tâm, như Hư Không thanh khiết, trống rỗng, hoàn toàn không tư tưởng : Tâm phi Tâm. Hãy thảnh thơi trong thực tính, chẳng buông bỏ hay kiểm soát. Lúc đó, Tâm không đối tượng chính là Đại Thủ Ấn. Thực hành miên mật thích nghi, rồi sẽ ngộ! Như vậy lời khai thị “mật truyền” này của Tổ TILOPA chẳng khác gì với Thiền Tông cả. Vua Trần Nhân Tông - Tổ Sư Thiền Trúc Lâm (Việt Nam) cũng từng khai thị :

“Cư trần lạc Đạo thả tùy duyên           (Ở đời vui Đạo, thả tùy duyên,

  Cơ tắc xan hề khốn tắc miên               Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

  Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch        Của báu trong nhà, thôi tìm kiếm,

  Đối cảnh Vô Tâm mạc vấn thiên”.      Đối cảnh Vô Tâm, chớ hỏi Thiền !).

      Thiền Sư Bổn Tịnh nói : “Tức Tâm là Phật, Không Tâm là Đạo” . Thiền Sư Hoàng Bá cũng khai thị : “Cúng dường mười phương Chư Phật không bằng cúng dường một Đạo Nhân Vô Tâm… Cái Bản Thể Như Như, bên trong như gỗ đá chẳng lay chẳng động, bên ngoài như Hư Không chẳng nghẽn chẳng ngại, vô năng sở, vô phương sở, vô tướng mạo, không được không mất…Dụ cho Tâm này, tức cái Tâm của Vô Tâm lìa tất cả tướng, chúng sanh và Chư Phật chẳng có khác biệt, hễ được Vô Tâm thì đến cứu cánh…” . Thiền Sư Đức Sơn cũng nói : “Vô Tâm nơi Sự, Vô Sự nơi Tâm”. “Vô Tâm” này cũng là “Vô Niệm” của Lục Tổ Huệ Năng! Tuy nhiên Tâm này vô tu vô chứng vô sở đắc : “Tâm tự Vô Tâm”. Nếu đem Tâm làm cho “Vô Tâm” thì Tâm lại trở thành có, là vô tâm của phàm phu, không phải là “Vô Tâm” hay “Không Tâm” hay “Tâm Phi Tâm” của người chứng Đạo !

10-Sự trong sáng của Đại Thủ Ấn không thể hiển lộ

Trong Kinh sách hay những khảo luận siêu hình,

Về Mật chú, Bát Nhã Ba La Mật hay Tam Tạng Kinh Điển;

Sự trong sáng đã bị che phủ bởi ý niệm và tư tưởng.
11-Vì đóng khung trong giáo lý cứng nhắc nên Chân Tính Mật Nguyện đã bị tổn hại,

Nhưng khi chấm dứt hoạt động tâm trí thì mọi quan niệm cứng nhắc sẽ tan biến;

Khi những làn sóng biển là sự yên tịnh sâu thẳm của chính nó,

Khi Tâm không còn lang thang trong vô định, vô tưởng,

Thì chính Mật Nguyện kiên trì sẽ là ánh đèn soi sáng Tâm đen tối.

      Đại Thủ Ấn hay Tâm Bản Nhiên tuy Rỗng không như Hư Không nhưng lại trong sáng và vi diệu, cũng là cái Bản Giác Minh Diệu (Kinh Lăng Nghiêm). Nó không thể “hiển lộ” trong Kinh Sách hay những khảo luận siêu hình về Mật chú, Bát Nhã Ba La Mật hay Tam Tạng Kinh Điển. Tất cả những thứ này chỉ là phương tiện để đạt tới cứu cánh, là “ngón tay” để chỉ “Mặt Trăng”! Học Kinh Điển là để có cái “Kiến Văn Giác Tri” hiểu được Lý Đạo. Hiểu rồi thì phải buông cái “Kiến Văn Giác Tri”. Nó sẽ là con dao hai lưỡi vừa làm sáng con mắt Đạo, vừa đâm mù con mắt Đạo. Những ý niệm và tư tưởng sinh ra từ cái Kiến Văn Giác tri, trở thành Vọng Thức trong sáu căn che mờ Tự Tánh ! Do đó dù có đọc hay tụng một ngàn quyển Kinh, rồi chấp vào văn tự chữ nghĩa làm cho niệm niệm sinh ra lấp đầy sáu căn, Đại Thủ Ấn không có chỗ để hiển bày. Dùng âm thanh đọc tụng cho thật nhiều tưởng rằng công phu, nhưng thật ra chỉ làm cho thần khẩu suy kiệt ; dùng sắc tướng cúng lạy tế lễ thật nhiều tưởng rằng được phước, nhưng thật ra chỉ làm cho thân căn mệt  mỏi mất công suông ! Cứ thảnh thơi và an định trong thanh tịnh hoặc nhìn chăm chú thấu suốt vào bầu trời trống rỗng nhãn quan chấm dứt, nhãn thức không còn cho đến khi Tâm tự nhìn thấu Tâm, không còn Vọng Tưởng thì Sóng trở về Nước, là lúc Đại Ngộ. Cái gọi là “công phu” này của Tổ TILOPA, chẳng có gì là công phu cả, vì nó rất “nhàn”, nhưng lại đạt kết quả ! Nó giống cái Vô Vi của Lão Tử, nghĩa là “Vô mà Vi, vô sở bất Vi” (không làm mà làm, không có chỗ nào mà không làm), và vượt khỏi cái Vô Vi này, đạt tới cái cửa Vô Vi của Thiền Sư Huyền Giác là thâm nhập vào cái Hư Không, tức là Đại Thủ Ấn. Điều này cũng chẳng khác với cái gọi là “công phu” của Tuệ Trung Thượng Sĩ :

“Đường trung đoan tọa tịch vô nghiên,        (Giữa nhà không nói, chỉ ngồi yên,

  Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên.              Nhàn ngắm Côn Luân sợi khói lên.

  Tự thị quyện thời Tâm tự tức,                    Lúc mệt mỏi rồi Tâm tự tắt, 

  Bất quan nhiếp niệm, bất quan Thiền”.     Cần chi niệm Phật với cầu Thiền).

      Tổ TILOPA có cái thấy chẳng khác Thiền Tông : Vì đóng khung trong giáo lý cứng nhắc nên Chân Tính Mật Nguyện bị tổn hại ; nhưng khi chấm dứt hoạt động tâm trí thì mọi quan niệm cứng nhắc sẽ tan biến ; khi những làn sóng biển là sự yên tịnh sâu thẳm của chính nó; khi Tâm không còn lang thang trong vô định, vô tưởng, thì chính Mật Nguyện kiên trì sẽ là ánh đèn soi sáng Tâm đen tối! Thái Tử Chiêu Minh, chia Kinh ra đủ loại, phân giải rõ ràng, biết bao là công phu. Lương Võ Đế, tạo phước xây chùa, độ Tăng, nhưng ngã sở, ngã kiến lại không đoạn được. Cả hai Cha Con đều chú trọng về hình thức và văn tự suông, nhưng chẳng được kết quả gì, thật là uổng công suông. Thi hào Nguyễn Du, đi Sứ nước Trung Hoa, hành trang duy nhất là quyển Kinh Kim Cang, đọc Kinh suốt cuộc hành trình dài ngàn dặm. Ông ngừng đọc Kinh, ghé lại đất Lương thuở xưa thăm đài phân Kinh của Thái Tử Chiêu Minh, Đài đã hoang tàn, chỉ còn trụ đá với vài vết văn tự. Trụ đá còn đấy, nhưng người xưa thì ở đâu và Đạo ở đâu mà cả hai Cha Con Lương Võ Đế suốt cả cuộc đời tìm không ra? Cuối cùng, Nguyễn Du đã ngộ và Ông hiểu ra rằng : “Kinh Vô Tự” mới là “Chân Kinh” ! 

“Bờ bên kia có Ma Ha Ca Diếp

  Một sát na Tâm nhiếp cả Đạo mầu

  “Niêm Hoa Vi Tiếu”, vạn Pháp gồm thâu

  Kinh Vô Tự, một bầu Chân Không rộng”. (Ngộ Thâm).                                             

12-Hãy dẹp bỏ tính thông minh tự mãn, từ bỏ những nguyên lý giáo điều,

Thì chân tính của mọi truyền thống và kinh sách sẽ được hiển lộ.

Khi hòa nhập trong Đại Thủ Ấn, là lúc con thoát khỏi ngục tù của luân hồi;

Thênh thang trong Đại Thủ Ấn, tội lỗi và tiêu cực tính sẽ tiêu tan;

Khi là thầy của Đại Thủ Ấn, con sẽ là ánh sáng của Kinh Điển.


13-Kẻ nào ngụp lặn trong vô minh là khinh thường Đại Thủ Ấn,

Họ chẳng biết gì ngoài vùng vẫy trong biển luân hồi khổ đau.

Hãy thương xót những ai đau khổ hằng khao khát!

Luôn chán khổ và mong giải thoát, hãy trung thành với sư phụ,

Khi ơn phước của Ngài chạm đến tim con thì Tâm được giải phóng.


14-Con ơi! hãy lắng nghe với lòng an lạc!

Dính mắc vào luân hồi là vô ích; đó là cội nguồn mọi khắc khoải lo âu.          

Vì say đắm trần gian là vô nghĩa, nên hãy kiếm tìm sự thật!


15-Vượt thoát khỏi tâm nhị nguyên là cái nhìn Tối thượng ;

Tâm tịch tĩnh lặng yên là Thiền tối thượng;

Tự nhiên như nhiên là pháp Hành tối thượng;

Rồi khi mọi hy vọng và sợ hãi không còn là thành quả đã đạt.

      Thật ra tất cả những cái biết gọi là “Tri Thức”, dù là thông minh xuất chúng như những nhà Bác Học ở cõi Thế Gian hay các cõi Trời thì vẫn còn bị hạn chế hay điên đảo bởi Nghiệp Lực. Nếu tự mãn hay cố chấp vào nó mà cho là Chân Lý với cái Kiến Văn Giác Tri của phàm phu thì con mắt Đạo sẽ bị mù. Vì đó là cái thấy hay cái Tri Thức bị khúc xạ bởi “Nghiệp Tướng” theo từng loài : Tướng “Người”, Tướng “Trời”, Tướng “A-Tu-La”, Tướng “Ngạ Quỹ”,  Tướng “Súc Sanh”… Mỗi cõi đều có cái Chân Lý tương đối riêng của nó, nhưng tất cả chỉ nằm trong Bóng Mê, giống như Chiêm Bao, thức dậy rồi thì tất cả đều không có ! Còn những nguyên lý giáo điều chỉ trói buộc con người làm kẻ nô lệ tâm linh hay nô lệ Thần Quyền, không có con đường Giải Thoát. Đạo Phật không có Giáo Điều hay Giáo Luật để ràng buộc hay cột trói mà chỉ có  Giới Luật để “Ly” với Pháp Trần, không bị Pháp Trần trói buộc, chướng ngại trên con đường Giải Thoát. Như thế, buông đi cái Ngã Kiến, Ngã Sở, Ngã Chấp, “Ly”  Pháp Trần thì Chân Tánh hiển bày. Trong giấc Chiêm Bao, vì Mê nên tưởng là thật với thân thật thế giới thật cố bám díu vào Pháp Trần Chiêm Bao với ngã ái ngã dục ngã kiến ngã sở… thành “Bệnh” bị Vô Minh trói buộc trong Chiêm Bao, không thể “thức dậy ” thoát khỏi ngục tù hay vô số kiếp luân hồi trong giấc Chiêm Bao, thoát khỏi cái “Thân Giả Tạm” chỉ là cái Bóng Ảo trong Chiêm Bao, hòa nhập vào cái “Thân Thật” là Pháp Thân, Chân Tánh hay Tự Tánh… tức là Đại Thủ Ấn !

 “Phiên thân nhất trịch xuất phần lung           (Xoay mình một ném vượt ra lồng

  Vạn sự đô lô nhập nhãn Không                     Muôn sự đều không ,nhập mắt không

  Tam giới mang mang Tâm liễu liễu               Ba cõi thênh thang , lòng sáng rỡ

  Nguyệt hoa Tây một, Nhựt thăng Đông”.    Trăng Tây vừa lặn, xuất vầng Đông”.

                                              (Tuệ Trung Thượng Sĩ).  

        Thênh thang trong cái Không hay Đại Thủ Ấn thì tội lỗi và những tiêu cực với sáu ngã luân hồi trong giấc Chiêm Bao đều tiêu tan:

“Mộng lý minh minh hữu lục thú                  (Trong mộng lao xao bày sáu nẻo

  Giác hậu không không vô đại thiên”.          Tỉnh ra bằng bặt chẳng ba nghìn).

                                        (Thiền Sư Huyền Giác).  

         Khi là thầy của Đại Thủ Ấn, thì  ánh sáng của Kinh Điển sẽ hiển bày :

“Tông diệc thông ,Thuyết diệc thông

 Định huệ viên minh bất trệ không

 Phi đãn ngã  kim độc đạt liễu

 Hằng sa Chư Phật thể giai đồng”.

                            (Thiền Sư Huyền Giác). 

(Tông cũng thông, Thuyết cũng thông

 Định huệ sáng tròn chẳng trệ không

 Nào phải mình ta riêng đạt đấy

 Hằng sa Chư Phật thể giai đồng).               

      Còn  kẻ nào khinh thường Đại Thủ Ấn hay cái Không này, mãi mê say đắm trần gian không lo tìm kiếm sự thật, ngụp lặn trong vô minh vô số kiếp; thật đáng thương, họ chẳng biết gì ngoài vùng vẫy trong biển luân hồi đau khổ ! ‘‘Vượt thoát khỏi tâm nhị nguyên là cái nhìn tối thượng”: bởi vì “Một là tất cả, tất cả là Một”. Chỉ cần quên đi “Tâm nhị nguyên” là có thể bao dung được tất cả Pháp Giới. Sự đối lập giữa Hữu và Vô, Sắc và Không, Mê và Ngộ, Phàm và Thánh, Phật và Chúng Sanh, Phiền Não và Bồ Đề, Sống và Chết, Nhơ và Sạch… chỉ là sự đối lập giả tạo! Chân lý chỉ có một, bởi vì “Huyễn Hóa” mà phân thành hai thành Nhị Kiến. Nhơ Sạch chỉ là giả danh, Sắc Không là giả tướng, Sống Chết chỉ là một đợt sóng chìm nổi trong vô định… Tâm “nhất nguyên” là tổng giai không bao trùm tất cả Pháp Giới, không có sống chết hay sinh tử, là Niết Bàn thanh tịnh, như Sóng trở về với Nước!

“Tòng vô hiện hữu, hữu vô thông

  Hữu hữu, vô vô, tất cánh đồng

  Phiền não, Bồ Đề nguyên bất nhị

  Chân như, vọng niệm, tổng giai không”.

                                    (Tuệ Trung Thượng Sĩ).

      “Tâm tịch tĩnh lặng yên là Thiền tối thượng’’: Tâm tịch tĩnh lặng yên thì cũng giống như Mặt Nước lặng yên như Gương bắt đầu soi chiếu cả Bầu Trời vô định, mọi Chân Lý hiển bày chân thật không chướng ngại:

“Tâm kính minh, giám vô ngại                   (Gương Tâm rõ, soi chẳng ngại

   Quách nhiên oánh triệt châu sa giới         Suốt thông chiếu khắp hà sa giới

   Vạn tượng sum la ảnh hiện trung             Muôn tượng um tùm, ảnh hiện trong

   Nhất lỏa Viên Quang phi nội ngoại”.       Một điểm Viên Quang không nội ngoại).

                                            (Thiền Sư Huyền Giác).

      “Tự nhiên như nhiên là pháp Hành tối thượng’’: Bởi vì “Bình thường Tâm thị Đạo”. Không cần phải chú trọng quá nhiều về hình thức như tế lễ cúng lạy, nặng nề về trì giới nhẫn nhục thái quá… giữ trung đạo, tất cả Pháp đều tự nhiên như nhiên, là “pháp Hành tối thượng” đạt thành quả Giác Ngộ.

16-Tâm trong trẻo tự nhiên ở bên kia bờ Tâm ảnh:

Hãy đi đường vô-đường để theo đường của Chư Phật;

Hãy nương theo vô-pháp để đạt đại ngộ.

       Phật dạy: “Tâm là Tông chỉ, cửa Không là của Pháp”. Đi huốt con đường Tâm từ ngọn cho tới Gốc, chỉ chú ý tới cái Gốc, nơi mà Tâm không còn là Tâm: tâm phi Tâm, trong trẻo tự nhiên như nhiên, tướng mà vô tướng, vật mà phi vật, pháp  mà vô pháp…đạt tới cái Không rốt ráo của Chư Phật. Khi đó là đi con đường để theo đường của Chư Phật, nương theo pháp mà vô pháp để đạt đại ngộ như Đức Phật từng khai thị cho Tổ Ca Diếp:

 “Pháp bổn Pháp Vô-Pháp           (Pháp, gốc Pháp không phải Pháp 

  Vô-Pháp Pháp diệc Pháp            Pháp không Pháp cũng là Pháp

  Kim phó vô Pháp thời                Nay khi trao cái không Pháp

  Pháp Pháp hà tằng Pháp”.         Mọi Pháp đâu từng là Pháp).

      17-Con ơi! Hãy lắng nghe với lòng thương cảm!

Con hãy nhìn sâu vào những tình trạng khó hiểu buồn đau trong đời, Chẳng có gì tồn tại, chúng huyễn ảo như mơ,

Những ảo tưởng vô nghĩa chỉ mang lại buồn nản và nhàm chán

Con hãy quay đi và buông bỏ những đeo đuổi trần gian.

18-Hãy cắt bỏ những dính mắc vào quê hương và bè bạn

Mà thiền định đơn độc trong rừng sâu núi thẳm;

Hãy ở đó trong trạng thái vô-thiền

Và vô-chứng-đắc thì con sẽ ngộ ra Đại Thủ Ấn.

      Lý với Pháp Trần mà thực chất chỉ là mộng tưởng huyền ảo đầy phiền não trói buộc; về với Pháp Không không Pháp tự do thênh thang với Chân Tánh. Tìm đến nơi thanh tịnh hoặc chốn rừng sâu núi thẳm để thiền định đơn độc, sống tự nhiên như nhiên trong trạng thái thiền mà vô thiền, vô-chứng-đắc thì sẽ ngộ ra Đại Thủ Ấn.

“Thường độc hành, thường độc bộ

  Ðạt giả đồng du Niết-Bàn lộ”. (ThS. Huyền Giác).

19-Một cây trổ ra đầy cành và lá

Nhưng khi rễ bị cắt thì chúng sẽ héo tàn;

Cũng thế, khi gốc rễ của Tâm bị cắt đứt,

Thì cành lá của cây luân hồi sẽ rụi tàn.

     Như đã diễn tả ở Phần II Tâm và Tánh, Tâm giống như một tàng cây to với “Con đường Giải Thoát ” chia làm hai phần Vọng Tâm và Chân Tâm tương ưng với Ngọn Tâm và Gốc Tâm : Ngọn Tâm thì sinh diệt, luân hồi ; còn Gốc Tâm thì không sinh diệt, là cái cửa Vô Vi để nhập vào Tánh. Ở đây Tổ TILOPA chỉ chú ý tới phần Vọng Tâm diễn tả Tâm là : “tàng cây luân hồi” trổ ra đầy cành và lá, khi rễ bị cắt thì chúng sẽ héo tàn. Gốc rễ ở đây là Vọng Thức, là Pháp Trần. Khi gốc rễ (tức Vọng Thức hay Pháp Trần) của Tâm bị cắt đứt, thì cành lá của cây luân hồi sẽ rụi tàn, là con đường Giải Thoát.

20-Chỉ một ngọn đèn có thể xóa tan đen tối của hàng ngàn kiếp

Thì chỉ một ánh chớp của Tâm trong sáng

Cũng thanh tẩy được nghiệp chướng và vô minh.

      Tổ Bồ Đề Đạt Ma khai thị: “Trực chỉ nhân Tâm kiến Tánh thành Phật”. Chỉ cần Tâm người “trực chỉ” thấy Tánh là đạt đạo Giải Thoát. Thấy Tánh  là đạt tới Tâm Không. Là chỗ rốt ráo Bản Thể của Tâm hay Tâm Bản Nhiên. Đối với Thiền Tông, trong một sát na đốn ngộ, chỉ một ánh chớp của Tâm trong sáng, cũng thanh tẩy được nghiệp chướng và vô minh xóa tan đen tối của vô số kiếp luân hồi: 

 “Chứng “Thực Tướng” vô nhân pháp,      (Chứng Thực Tướng không nhân pháp,

   Sát na diệt khước A-Tỳ nghiệp”.              Sát na rũ sạch A-Tỳ nghiệp).

                                           (Th.S Huyền Giác).

             Chẳng những chỉ một ánh chớp của Tâm trong sáng xóa tan đen tối của hàng ngàn kiếp mà còn soi sáng Trí Tuệ, bao trùm cả Pháp Giới, vượt thoát  luân  hồi, đạt đến Niết Bàn Vô Sanh:

 “Tứ Trí ba vô tận                            (Bốn Trí cuồn cuộn sóng                

   Bát Thức hữu Thần Uy                 Tám thức lộ thần uy

   Tâm đăng minh Pháp Giới            Ðèn Tâm soi Pháp Giới 

   Tức thử thị Bồ Đề”.                      Ðó tức là Bồ Đề ). 

                                            (Bồ Đề Đạt Ma).  

      Chỉ cần ở Tâm người, không cần phải cầu bên ngoài, chỉ một ánh chớp của Tâm trong sáng, là có cả một mùa  Xuân vĩnh cửu với đầy đủ hoa thơm cỏ lạ :

 “Học giả phân phân bất nại hà,               (Học Đạo mênh mang ai có hay,

   Đồ tương linh đích  khổ tương ma.       Gạch đem mài gạch nhọc nhằn thay,

   Báo quân hưu ỷ tha môn hộ                  Của Người anh hãy thôi nương tựa,

   Nhất điểm xuân quang  xứ xứ hoa’’ .   Một ánh Xuân về, hoa đó đây).

                              (Tuệ Trung Thượng Sĩ) .               

21-Con ơi! Hãy lắng nghe trong an lạc!

Sự thật bên kia bờ Tâm thức không thể hấp thụ bởi Tâm kiên cố;

Ý nghĩa của vô-hành không thể hiểu được trong đam mê tạo tác;

Để thông suốt ý nghĩa của vô-hành và bên kia bờ Tâm tưởng,

Con hãy cắt bỏ mọi gốc rễ của Tâm và an định trong sự tỉnh thức rỗng rang.

 

22-Để dòng ô nhiễm của niệm tưởng được thanh tẩy;

Con hãy tránh mọi vọng tưởng dù tích cực hay tiêu cực

Hãy để chúng xuất hiện như chúng là:

Thế giới hiện tượng không thêm không bớt, chính là Đại Thủ Ấn.

 

 23-Nền tảng vô sinh thường hằng làm tan rã những khát vọng và huyễn tưởng của con:                           

Đừng tự cao hay tính toán mà hãy an định trong bản tính vô sinh

Và hãy để những ý niệm của con và vũ trụ tan rã.

      Bên kia bờ Tâm thức không thể hấp thụ bởi Tâm kiên cố với những ý niệm, khái niệm, hay tư tưởng của pháp thế gian....là những vọng tưởng dù tích cực hay tiêu cực. Cố chấp vào nó sẽ làm cho con mắt Đạo bị mù. Phải vượt qua khỏi những vọng tưởng hay vọng thức này để đạt tới Vô-Vi cũng là Vô-Hành. Ý nghĩa của Vô-Hành không thể hiểu được trong đam mê tạo tác với những ý niệm hay vọng thức của Pháp Trần. Do đó phải cắt bỏ mọi gốc rễ của Tâm là Vọng Tâm hay Vọng thức và an định trong sự tỉnh thức rỗng rang.  Vô-Hành cũng tương đồng với Vô-Tác, Vô-Vi, Vô-Niệm, Vô-Tâm, Vô Pháp, tất cả đều vô sở trụ… ngộ nhập cái Không rốt ráo, là Pháp Thân vi diệu:

Tuyệt gốc Vô-Vi liễu Tánh Chân

Hữu-Vi vọng động lạc thức thần

Trùng trùng duyên khởi hà sa giới

Kiếp kiếp trầm luân vạn lý trần

Vô-niệm, Vô-Tâm, vô sở trụ

Vô-Hành, Vô-Pháp diệc Vô-Nhân

Quán Không, Tự Tánh phi nhất vật

Phi Phật, phi Phàm, thị PHÁP THÂN.   (Vô Tác - Ngộ Thâm).              

      Một cách đơn giản Vô-Hành hay Vô-Tác thì Sóng trở về với Nước lặng yên như Gương là Tâm Bản Nhiên bắt đầu phản chiếu và soi thấu Bầu Trời trong vô tận. Vô-Hành hay Vô-Tác thì từ nguyên tử cho đến vũ trụ đều tan ra trở về Không: “Sắc tức thị Không”, trở về với bản thể như nhiên thường hằng tức là Đại Thủ Ấn. Nền tảng vô sinh thường hằng làm tan rã những khát vọng và  huyễn tưởng. Do đó phải an định trong bản tính vô sinh; không cố chấp hay dính mắc vào ngã kiến, ngã sỡ, buông niệm ly trần để những ý niệm hay vọng tưởng và vũ trụ của thế gian mê tan rã.

24-Tri kiến cao nhất sẽ mở ra các cửa;

Thiền định tối thượng sẽ dẫn đến các điểm sâu vô tận ;

     Pháp hành tối thượng là kiên trì mà không bị kiềm chế;

    Và sự thành tựu cao nhất là sự hiện hữu bình thường không có hy vọng hay sợ hãi.

     Tri kiến cao nhất sẽ mở ra các cửa, nhưng để vào được cửa thì phải buông cả cái tri kiến này “Vô Tri mà Tri. Vô sở bất Tri” như Tổ thứ 25 Bà-Xá-Tư-Đa (Basiasita) khai thị:

 “Thánh nhân thuyết tri kiến,       (Thánh nhân nói tri kiến,

   Đương cảnh vô thị phi.               Ngay cảnh không phải quấy.

   Ngã kim ngộ kỳ Tánh                 Nay Ta ngộ Tánh ấy,

   Vô Đạo diệc vô Lý”.                   Không Đạo cũng không Lý).

       Thiền định tối thượng sẽ dẫn đến các điểm sâu vô tận ,vì khi đó hòa nhập với tất cả Pháp Giới trùm khắp; từ hạt bụi hạt nguyên tử cho đến vũ trụ bao la, không có chỗ nào mà chẳng thấy. Chân tướng của tất cả Pháp Giới thoát khỏi bức màn Vô Minh, lộ toàn thân trong ánh sáng vi diệu của Tâm Bản Nhiên.

       Pháp Hành tối thượng là kiên trì mà không bị kiềm chế, nghĩa là vẫn kiên trì nơi Hành mà Vô-Hành, Vô-Tác, Vô-Niệm, Vô-Tâm… chẳng bị ràng buộc cột trói hay kiềm chế. Ngay nơi động mà tịnh, ngay nơi vật mà phi vật, ngay nơi tướng mà phi tướng, ngay nơi niệm mà lìa niệm, ngay nơi cảnh mà Tâm không dính mắc.

      Sự thành tựu cao nhất là sự hiện hữu bình thường không có hy vọng hay sợ hãi. Tâm bình thường là Đạo và Đạo thì ngay trước mắt nơi nào cũng có. Mặc áo, ăn cơm, rửa bát, bửa củi, gánh nước, đi đứng, ngủ nghỉ, nằm ngồi hay đang làm việc… đều là Đạo; ngọn cỏ, tàng cây, đám mây, sơn hà đại địa cho đến hạt bụi hạt nguyên tử hay Hư Không bao la… đều là Đạo! Vì tất cả đều đang “niệm” rồi chấp niệm nên niệm niệm duyên khởi mà hiện hữu và có tướng sinh diệt. Sự hiện hữu bình thường không có hy vọng hay sợ hãi, là ngay nơi niệm mà lìa niệm,  ngay nơi động mà lìa động, ngay nơi cảnh mà lìa cảnh, ngay nơi vật mà lìa vật,  ngay nơi pháp trần mà lìa pháp trần, đạt tới Vô-Niệm, Vô-Hành, Vô-Tâm… là sự thành tựu cao nhất! Mặc dù tất cả Pháp Trần đang niệm mà hiện hữu, có ngã có nhân, có năng có sở, trở thành nhị kiến của thế gian mê, nhưng với sự hiện hữu bình thường của thế gian mê mà trong đó tất cả đều  “Ly’’ không ngã nhân vô năng sở trở về cái “Một” hay “Chơn Nhất” thì niệm Vô Minh sinh ra Pháp Trần tịch diệt. Khi đó tất cả Pháp Trần đều niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng, không còn là niệm Vô Minh mà là cái niệm Chân Như của Tự Tánh, nơi đó Phật cũng Phi, Pháp cũng Phi mà tăng cũng Phi… là cái Không rốt ráo vi diệu, là cái Đại Thủ Ấn! Khi đó mọi sự   hiện hữu bình thường đều là Đạo: núi sông là núi sông, khói non Lô là khói non Lô, sóng Chiết Giang là sóng Chiết Giang…là cái nhìn với “Tri Kiến Phật” hay “Pháp nhĩ Như Thị”

25-Lúc đầu, Nghiệp Lực của con như dòng sông đổ vào thung lung  dốc;

Rồi nhẹ nhàng lang thang như khúc giữa của sông Hằng;

Và cuối cùng, như dòng sông trở thành một với đại dương,

Nơi bất nhị, mẹ và con là một.

       Cũng như Thiền Tông ngộ nhập cái Không, khi ngộ nhập Đại Thủ Ấn, tức là đắc Đạo và khi đó Nghiệp Chướng không còn, đạt Niết Bàn Vô Sanh. Cũng như Chiêm Bao khi “thức dậy”, tất cả Nghiệp Chướng dù có nặng nề với vô số kiếp trong Địa Ngục A Tỳ trong thế giới Chiêm Bao đều dứt sạch, không để lại dấu vết khi “thức dậy”  mà hòa nhập với cái Thân Thật là Pháp Thân, cái Không hay Đại Thủ Ấn ; nơi bất nhị, mẹ và con là một !          

26-Nếu Tâm con u tối không thể thực hành lời dạy bảo này,

Hãy giữ hơi thở tự nhiên và tống ra nhựa sống của nhận thức,

Hãy tập nhìn chăm chú - phương pháp tu luyện nhất Tâm,

Hãy kiên trì kỷ luật đến khi hoàn toàn an trú trong tỉnh thức.  

      Nếu những ai Tâm còn u tối  không thể thực hành lời dạy bảo này. Tổ TILOPA còn có phương pháp tu luyện nhất Tâm là tập nhìn chăm chú để xóa tan vọng thức hay vọng tưởng, giữ hơi thở tự nhiên không cột niệm, kiên trì kỷ luật đến khi hoàn toàn an trú trong tỉnh thức.
              27-Khi thực hành, thì tính giác của đại lạc và không  tính sẽ thức dậy:

Được hợp nhất trong ơn phước của tuệ giác và phương tiện,

Sẽ từ từ chảy xuống, dừng lại rồi ngược về Tâm Bồ Đề,

Nối kết với cội nguồn, rồi lan tỏa khắp châu thân.

Nếu con không còn tham ái và bám chấp thì tính giác sẽ khơi dậy.


28-Con sẽ trường thọ và trẻ mãi như mặt trăng tròn đầy,

 Luôn rạng rỡ và trong sáng, năng lực như sư tử,

Con sẽ mau thành tựu sức mạnh trần gian và đại giác ngộ.
Nguyện cho lời chỉ dạy cốt tủy này về Đại Thủ Ấn

Sẽ tồn tại mãi mãi trong tim những chúng sinh may mắn.

      Thực hành phương pháp tu luyện nhất Tâm bằng cách tập nhìn chăm chú và kiên trì kỷ luật cho đến khi hoàn toàn an trú trong tỉnh thức. Khi đó vọng tưởng không còn thì tính giác của đại lạc và không  tính sẽ thức dậy hợp nhất trong “Định” sinh tuệ giác và phương tiện, sẽ từ từ chảy xuống dừng lại rồi ngược về Tâm Bồ Đề , tại nơi đây tức Tâm là Phật  nối kết với cội nguồn Phật Tánh rồi lan tỏa khắp châu thân khắp cả sáu căn, cả sáu căn là Tâm Bổ Đề, là sáu Ban Thần Dụng… Khi đó Phật Tánh hiển bày, thành tựu sức mạnh trần gian và đại giác ngộ, hòa nhập với tất cả Pháp Giới bình đẳng là cái Như cái Một hay Chơn Nhất, trở về cái trong suốt rỗng rang trùm khắp như Hư Không, tức là Đại Thủ Ấn chẳng khác với Thiền Tông!

      Tóm lại, Đại Thủ Ấn mà Sơ Tổ TILOPA “mật truyền” cho Nhị Tổ NAROPA chẳng khác gì lời khai thị của Đức Phật Thích Ca: “Tâm là tông chỉ, cửa Không là cửa Pháp” hay của Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân Tâm, kiến Tánh thành Phật”. Khi “Tâm tự nhìn thấu Tâm”,  chuỗi lan man và dòng ý niệm chấm dứt… là lúc Đại Ngộ theo cách của Tổ TILOPA thì chẳng khác với cái gọi là “trực chỉ nhân Tâm” của Tổ Đạt Ma, Tâm tự “Vô Tâm” của Thiền Sư Hoàng Bá, cái lưỡi kiếm “Vô” của Triệu Châu, cái cửa “Vô Vi” của Thiền Sư Huyền Giác hay cửa “Vô Niệm” của Lục Tổ Huệ Năng… Con đường Giải Thoát đó chẳng khác với con đường của Đức Phật Thích Ca đã dạy là con đường “vô đường”, tức là cái Không trùm khắp, ở ngay trước mặt, nơi nào cũng có; Pháp mà “vô pháp” không chấp dính pháp trần; hành mà “vô hành” vô tác, tự nhiên như nhiên, không đam mê tạo tác, mà vẫn an định nơi cái Không rỗng suốt; thiền mà “vô thiền” vô sở đắc với Tâm tĩnh tịch lặng yên… Nếu không thực hiện được những điều này, Tổ TILOPA cũng có phương pháp thực hành tu luyện nhất Tâm cho đến khi hoàn toàn an trú trong tỉnh thức và khi đó Tánh Giác của đại lạc và Không  Tánh sẽ thức dậy… chẳng khác với Thiền Tông ! 

      Như vậy thì đâu đâu cũng là Như, cái Một hay Chơn Nhất. Đâu đâu cũng là Cực Lạc, Bát Nhã hay Niết Bàn. Đâu đâu cũng là Phật, Tánh, Phật Tánh, Tự Tánh Di Đà, Pháp Thân, Như Lai hay là Đại Thủ Ấn …Do đó nên xóa bỏ ranh giới giữa Tịnh Độ, Thiền Tông, Mật Tông; xóa bỏ cái danh từ Tịnh Độ, Thiền Tông hay Mật Tông…mà duy nhất chỉ là cái Đạo Giác Ngộ không phải chỉ của Phật Thích Ca, Phật A-Di-Đà mà của Vô Lượng Phật khắp mười phương. Nói ngắn gọn là cái Đạo Giác Ngộ của Phật. Nhưng chữ Phật đã có nghĩa là người Giác Ngộ, do đó nên bỏ luôn chữ Phật hay Đạo Phật, chỉ gọi là “Đạo Giác Ngộ” hay “Đạo Giải Thoát”. Như vậy tất cả chúng sanh không phân biệt Tôn Giáo cùng có chung một mục đích “Giác Ngộ” là chấm dứt phiền não, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi trở về Căn Nhà Xưa là Căn Nhà “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” hay Niết Bàn Cực Lạc hay la Đại Thủ Ấn … đều có thể tham cứu “Đạo Giác Ngộ” để tìm Chân Lý Giải Thoát và đạt được Giác Ngộ Giải Thoát!

     Còn việc cố chấp tranh cải về thời Mạt Pháp hay Chánh Pháp thì ngay thời Lục Tổ Huệ Năng và Thiền Sư Huyền Giác đã là thời Mạt Pháp, nhưng vẫn có vô số người Ngộ Đạo: “Hậu nhân đắc Đạo hà cùng số”. Thế gian biện luận rằng: Thời Mạt Pháp chỉ có thể phải nương tựa vào “Tha Lực” bên ngoài, không nên Tu Thiền hay Tự Tu Chứng dù là với Chánh Pháp của Phật Thích Ca. Khi đó Thiền Sư Huyền Giác khuyên hành giả: 

“Giả sử thiết luân đỉnh thượng triền           (Ví phỏng thiết luân trên đầu chuyển

  Định huệ viên minh chung bất thất             Định huệ sáng tròn luôn chẳng biến

  Nhật khả lãnh nguyệt khả nhiệt                 Nguyệt dầu thành lửa, nhật thành băng

  Chúng ma bất năng hoại chân thuyết         Ma nào phá được chân thuyết hiện?

  Tượng giá tranh vanh mạn tiến đồ             Xe voi dốc ngược vững đường lên

  Thùy kiến đường lang năng cự triệt?”      Sức mấy bọ trời ngăn bước tiến?).

      Đạo Lý của Đức Phật và những lời khai thị của Tổ và Thiền Sư lắm lúc quá cao siêu khó hiểu. Tuy nhiên Phật, Tổ và Thiền Sư có giảng giải rõ ràng và hành giả cũng phải quán chiếu, tư duy thì trí tuệ mới phát triển được (Văn Tư Tu). Thời xa xưa đã có biết bao nhiều người Ngộ Đạo cũng nhờ cái siêu việt khó hiểu này, nếu quá dễ Con Người sẽ sinh lười biếng suy nghĩ và Bộ Óc loài người với Bộ Gene thông minh sẽ suy thoái trong những thế hệ mai sau… Nhà Toán Học Pascal có câu nói: “Con Người là Cây Sậy biết suy nghĩ”. Tuy Con Người rất yếu đuối như Cây Sậy, thể lực thua xa các loài dã thú như voi, cọp, beo, gấu… thế mà Cây Sậy yếu đuối kia lại làm Chúa Tể cả sơn lâm và thống trị luôn Quả Địa Cầu vượt hết tất cả loài cầm thú khác dù có sức mạnh hơn con người. Khi một đứa trẻ mới ra đời, nó còn rất ngây ngô chưa hiểu biết điều gì. Phải tập đi, tập nói rồi học hành. Nhưng vài chục năm sau nó sẽ “đi đôi giày bảy dặm”, trở thành một chuyên gia lỗi lạc, một chính khách lưu loát, một nhà Khoa Học đại tài… Chẳng lẽ nó cứ phải tập đi mãi và học đánh vần ABC suốt cuộc đời! Trường học cũng như trường đời hay trường Đạo phải có ngày lên lớp và thi đậu thành nhân, thành quả. Lúc đầu thì học cái dễ, từ từ lên cao, không đứng yên một chỗ. Nguyên lý của vũ trụ là “Dịch” tức là di chuyển, hướng về cái khó, cái lạ, cái bí mật để khám phá vũ trụ cũng như đời sống Tâm Linh. Đạo của Đức Phật Thích Ca đi bằng đôi chân vững chắc: Trí Tuệ và Từ Bi luôn luôn thích ứng với mọi thời đại. Đôi chân này còn siêu việt hơn đôi giày bảy dặm của Thế Gian, nó sẽ phóng cao lên giữa Hư Không, nhảy qua khỏi “đầu sào trăm trượng”, vượt qua “cửa Vô Vi”, nhập vào cái “Không” giẫm nát cả ba ngàn thế giới, không phải chỉ mãi mê trong Vô Minh lo làm ông chủ nhất thời sắp khánh tận với biết bao nhiêu nợ nần nghiệp chướng, càng lo làm ăn lại càng thua lỗ (ý nói lo làm giàu bất chánh, sát hại chúng sanh, nói dối lừa đảo… tuy có nhiều tiền của giàu sang, nhưng lại thua lỗ là khi chết không mang theo được, chỉ mang cái nợ là cái Nghiệp ác đã tạo tác đi vào ba đường ác là Địa Ngục, Ngạ Quỹ, Súc Sanh) trên cái cõi Ta Bà đầy “ngũ trược” chịu bao phiền não: sinh, lão, bệnh, tử trong cái cảnh luân hồi bất đắc dĩ này! Là Phật Con với hạt giống Phật Tánh sẵn có thì phải noi gương Phật, Tổ và Thiền Sư Ngộ Đạo, phải là Sư Tử, là Voi lớn, không theo dấu chân Thỏ như lời khuyên của Thiền Sư Huyền Giác: 

“Đại Tượng bất du ư Thố kính                             (Voi lớn đâu thèm đi lối thỏ

  Đại Ngộ bất câu ư tiểu tiết                                  Ngộ lớn sá gì chút tiết nhỏ

  Mạc tương quản kiến báng thương thương       Đừng nhìn trong ống biếm trời xanh

  Vị liễu, ngô kim vị Quân quyết”.                         Chưa tỏ, vì anh ta mở rõ).

      Tóm lại, việc thứ nhất : có Đức Phật truyền trao Tấm Bản Đồ chỉ đường chính xác để trở về căn nhà xưa: Căn nhà Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Việc thứ hai : có Thiền Sư chỉ đường tắt trên Tấm Bản Đồ đi tới ngay Cửa Vào, lắm lúc các Ngài còn trao tận tay “chìa khóa” để mở cửa, nhưng nếu không có chìa khóa thì hành giả phải tự phá nát cửa mà vào! Việc thứ ba: là tự hành giả phải LÊN ĐƯỜNG : độc hành độc bộ mà đi và với Chánh Pháp tức là với “Tấm Bản Đồ Bát Nhã” và cái “Bí Quyết” của Thiền Sư để vào Cửa, hành giả có niềm tin vững chắc, đó là Chánh Tín và niềm tin này là “Mẹ đẻ của Chư Phật”. Chư Phật cũng nhờ niềm tin này mà đạt Đạo. Hành giả được xem là đã “Thấy Đạo”. Bây giờ mới bắt đầu phải Tu Đạo, vì có “Thấy Đạo” mới Tu Đạo như Thiền Sư Bổn Tịnh dặn dò:   

“Thấy Đạo mới Tu Đạo

  Chẳng thấy lấy gì Tu

  Tánh Đạo như Hư Không

  Hư Không Tu chỗ nào?”. 

      Cái Tu Đạo này là ở Tâm, là phải đạt đến “Tâm không”  cùng tần số với Tánh để nhập vào Tánh như Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã khai thị: “Trực chỉ nhân Tâm kiến Tánh thành Phật”. Như vậy Đường Đi đã Rõ bước, Cửa Vào cũng đã thông, chỉ còn có cái Tâm “Đa Sự” nên chưa lọt vào Cửa được, bởi vậy giai đoạn này là phải “TU TÂM” để nhập TÁNH. Chừng nào đạt tới cái Tâm không, Tâm thấu suốt Tâm, không còn “Bảy Sóng”, không có một vật lẳng lặng như Gương thì cánh “Cửa Rõ Vô Vi” từ từ mở ra ngộ nhập Vô Vi ( Mặt Trăng Thứ Hai), ngay đó nhảy thẳng vào Tánh, sấn ngược lên tới “đỉnh Tuyết Sơn” cũng là cái KHÔNG hay cái Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa, du hí Tam Muội hay Niết Bàn vô trụ.

“Tứ sơn thiên bích vạn thanh tùng         (Bốn núi ngàn tường muôn bụi rặm

  Liễu đắc đô lô nhất thiết không             Hiểu ra mới biết thảy đều không

  Hỷ đắc lư nhi tam cước tại                     Mừng nay có được lừa ba cẳng

  Mạch kỵ đã sấn tận cao phong”          Sấn ngược đường lên đỉnh tận cùng).

                                          (Tuệ Trung Thượng Sĩ).  

     Vậy thì hãy ‘‘LÊN ĐƯỜNG’’ với tấm bản đồ : Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa của Chư Phật, Tổ và Thiền Sư Ngộ  Đạo. ‘‘LÊN ĐƯỜNG’’ học cái “Bí Quyết” (cái Tuyệt Cùng, cái Vô Vi) chỉ con đường tắt, đọc được Tấm Bản Đồ,  phăng tìm ngay tận đầu nguồn, tận gốc ‘‘Cửa Vào’’ căn nhà Bát Nhã mà các Ngài đã để lại trong Tàng Kinh, luận thuyết hay thơ kệ vô giá ! ‘‘Độc hành độc bộ” mà đi phăng theo ‘‘dấu vết’’ của các Ngài, nếu cần thì phải ‘‘học đồ’’ theo từng ‘‘dấu chân’’‘‘nét kiếm’’ của các Ngài và phải tư duy quán chiếu thật kỹ để khỏi bị lầm lạc, đạt tới niềm tin ‘‘Chánh Tín’’.  ‘‘LÊN ĐƯỜNG’’ với cái‘‘Tâm không’’ không chấp dính với lục trần, cái Tâm‘‘Vô Niệm’’của Lục Tổ Huệ Năng, cái Tâm‘‘Vô Tâm’’của Thiền Sư Hoàng Bá, hay cái Tâm‘‘’’của Thiền Sư Đức Sơn, cái Tâm ‘‘Phi Tâm’’vô ngã chủ , phi Phật, phi Thánh, phi phàm, phi vật : thuần đức, thiêng liêng, tinh khiết....Tiếp tục mồi Ánh Lửa Bát Nhã mà chính tay Đức Phật Thích Ca trao truyền cho Tổ Đại Ca Diếp ở Pháp Hội Linh Sơn, rồi truyền qua 28 đời Tổ Sư Tây Thiên  vào Trung Quốc với Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma cho tới Lục Tổ Huệ Năng , Thiền Sư Huyền Giác …và vô số các Vị Thiền Sư Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam….

      Nhìn theo gót chân các bậc Tiền Nhân, ‘‘LÊN ĐƯỜNG’’  đi tìm Chân Lý Giải Thoát không nhất thiết phải là xuất gia hay tại gia, tuy xuất gia thì có điều kiện lợi hơn. Vào trong nhà chùa, trong tu viện, nhưng nếu nhà chùa hay tu viện bị biến chất, không có Đạo Giải Thoát thì đi du phương tìm Đạo nơi các Tòng Lâm. Hoặc tự một mình vào rừng sâu tham cứu Đạo Lý dưới Gốc Cây Bồ Đề như Đức Phật Thích Ca, hoặc cất am  tranh nơi rừng hoang núi vắng như Thiền Sư Diệu Phổ, hoặc ở tại gia như gia đình Bằng Long Uẩn, Tuệ Trung Thượng Sĩ, hoặc đi tham vấn các Thiền Sư như Thi sĩ Tô Đông Pha, hoặc ngay cả đang còn làm việc tại quan trường như Triệu Biện. Điều Quan trọng là phải biết “Buông Bỏ” hoặc ít ra phải xem nhẹ việc đời, không để cho Thế Gian Pháp trói buộc: “Vô Tâm nơi Sự, vô Sự nơi Tâm”.   

 “Cũng vì ham muốn phải long đong,

   Ném quách mà ra khỏi bụi hồng.

   Buông thỏng hai tay lên Phật Tổ,

   Một lần phủi giũ , một lần xong”.    (Tuệ Trung Thượng Sĩ).                      

       *Đối với Phật Tử hay Cư Sĩ tại gia, có thể mượn hai câu thơ trong bài thơ “Nhàn” của Thi Sĩ Nguyễn Công Trứ  làm cách sống Đạo :

                              “Thị tại môn tiền náo

                                Nguyệt lai môn hạ nhàn”

      Nghĩa là trước cửa nhà là cái chợ đầy ồn náo bon chen thị phi danh lợi của Thế Gian, cửa sau nhà là Mặt Trăng thanh tịnh có thể hưởng nhàn hoặc xa lánh thế tục bụi trần hay hướng về Mặt Trăng thanh tịnh mà Tu Tâm dưỡng Tánh. Có thể sống Đạo với Ánh Trăng như thả lỏng sáu căn “nhàn khán” nhìn Trăng và Hư Không hoặc tư duy quán tưởng ngồi thiền thường xuyên dưới Ánh Trăng… cơ hội gặp một nhân duyên lớn hay có đủ nhân duyên như trái cây đã chín chỉ gặp một cơn gió thoảng nhẹ là có thể chín rụng tự nhiên trên mặt đất, khi đó có thể thấy sao Mai mọc như Đức Phật Thích Ca đã từng thấy, và cũng khi đó cả Thân Tâm cùng hòa với “Mặt Trăng” thật làm Một ! Tu tại gia cũng là một điều tốt, cũng có đủ Kinh Điển sách vở, băng cassette, video, đĩa dvd…Ngồi tại nhà có thể nghiên cứu Kinh Điển hoặc nghe Phật Pháp đủ loại với máy vi tính (nếu cần), bằng không chỉ cần một vài quyển Kinh liễu nghĩa là đủ ! Tại nhà cũng có thể tụng kinh niệm Phật, ngồi Thiền, tư duy quán chiếu… Tại nhà cũng như ở chùa hay nơi rừng sâu núi vắng cũng đều có cái Không trùm khắp và cái Không này là ngôi Tam Bảo rốt ráo có  đủ Phật Pháp Tăng : Phật mà phi Phật, Pháp mà phi Pháp, Tăng mà phi Tăng, cả Phật Pháp Tăng đều là Không…Đối với chùa chiền, tu viện, thiền viện, nếu có Vị chân tu trụ trì hay bất cứ Vị Tăng hay Ni nào mặc dù chưa  ngộ Đạo nhưng có Đạo cao Đức trọng, có Đức Hạnh, biết giữ gìn giới luật Nhà Phật…thì nên lui tới học hỏi hay tu tập, vì những nơi này có đủ ngôi Tam Bảo: Phật Pháp Tăng đúng nghĩa rất quý và đáng trân trọng có thể làm nơi nương tựa ! Còn nếu Vị  trụ trì không phải là chân tu, chỉ là thầy cúng thông thường, không có Đạo Pháp, dính mắc nhiều Pháp Trần, thích chùa to nặng hình thức vật chất, phung phí nhiều tiền bạc của Bá Tánh, kinh doanh thương mại… thì không nên đến. Hoặc có những Vị thuyết giảng rất hay nhưng lại nhiều vọng ngữ ngụy ngôn ngã mạn, Sáu Căn không thanh tịnh, không có Đức Hạnh, tiền bạc tài vật mờ ám, liên hệ nam nữ không rõ ràng, không giữ giới luật nhà Phật…thì cũng không nên đến, chỉ làm mất thời gian vô ích mà còn tạo thêm Nghiệp xấu ! Nếu chùa chiền, tu viện, thiền viện bị biến chất không có Đạo Giải Thoát, thì Phật Tử hay Cư Sĩ tại gia vẫn rộng đường tu : ở tại nhà, hoặc cất am tranh một nơi thanh tịnh và theo lời khuyên của Tổ Bồ Đề Đạt Ma: lấy Thân làm ngôi Chùa, nơi thanh tịnh địa, xa lìa Tam Độc, tịnh Sáu Căn, Thân Tâm vắng lặng như Hư Không. Cũng không cần phải đúc vàng, tạc ngọc làm Tượng Phật, mà phỏng theo Chân Dung diệu tướng của Như Lai : lấy Thân làm Lò Đúc, lấy Pháp làm Lửa, lấy Trí Tuệ làm Tay Thợ Khéo, lấy Ba Giới Tụ Tịnh - Sáu Ba La Mật làm Khuôn Đúc, nấu chảy và rèn đúc chất Chân Như Phật Tánh ở trong Thân thành hình tượng của Chân Dung, là Pháp Thân thường trụ vi diệu. Trong khi dụng Thân làm ngôi Chùa, nơi thanh tịnh địa có đủ ngôi Tam Bảo : Phật Pháp Tăng đều Như hay là cái Không trùm khắp, cũng như trong khi dụng Thân làm Lò Đúc chất Chân Như Diệu Tánh của Như Lai, thì có thể cái cửa Vô Vi chợt xuất hiện hay từ từ mở ra là cái “riêng sáng hiện bày rõ ràng” (cách nói của Thiền Sư Lâm Tế), nó ở trong Thân, ở ngoài Thân bao trùm khắp cả Pháp Giới ! Có thể tạm gọi đây là cái Rõ. Thật ra nó có ba trạng thái : cái Rõ, cái Trong rồi tới cái Không mới là rốt ráo. Nhưng cũng chẳng phải là ba, ba mà là một, nhưng một cũng là ba tùy theo đứng trong Nghiệp hay là ở trong Tánh. Ngài Lâm Tế dặn dò rằng với cái Rõ hay cái “riêng sáng hiện bày rõ ràng” này chỉ trong tất cả thời đừng cho gián đoạn.  Cái Rõ là Mặt Trăng Thứ Hai, còn bám trên Sự Vật và Hư Không. Chừng nào cả Sự Vật và Hư Không sụp đổ, đều là Không : ‘‘Sắc tức thị Không’’ thì Cái Rõ , Cái Trong, Cái Không tuy ba mà là một, đạt tới cái rốt ráo là Không là cái mà Cư Sĩ Bàng Long Uẩn đã ngộ nhập và Ông luôn luôn sống với cái Không, gửi cả thân tâm vào Không, trở thành một Đạo Nhân “nhàn”, không còn lo ngại việc sinh tử ! (xem bài thơ vịnh cái Không của Cư Sĩ Bàng Long Uẩn). Thật ra cái Rõ hay cái “riêng sáng hiện bày rõ ràng”  xuất hiện rồi lại mất là do hành giả chưa thật sự ngộ nhập vào cái Rõ (hay cái Vô Vi) mà chỉ mới đứng ngoài cửa, gần sát với nó nên có thể cảm nhận được nó. “Cái Sáng” bao gồm luôn “Cái Rõ” này ở trong Thân lẫn ngoài Thân và trùm khắp, làm cho cả Thân Tâm an lạc lạ thường, Trí Tuệ sáng suốt minh mẫn ! Tuy nhiên vẫn chưa phải là ngộ nhập, mà chỉ “đứng gần ở ngoài cửa”. Nó có thể hiện diện trong nhiều giờ, nhiều ngày hay nhiều tháng…nhưng rồi bỗng nhiên lại mất ! Tại sao mất ? Thiền Sư Lâm Tế chỉ rõ : ‘‘Chỉ vì tình sinh trí cách, tưởng dấy thể sai’’. Tức là vì còn bám víu vào Pháp Trần tạo Nghiệp, chấp ngã hoặc cống cao ngã mạn, chưa đến nơi mà tự cho là ngộ đạo, rồi từ bỏ giới luật, dan díu Pháp Trần nên Sáu Căn bị ô nhiễm, không tiếp tục con đường tu để đạt đến chỗ rốt ráo, cho nên chẳng những mất Đạo mất đi một đời tu mà còn có thể bị đọa vào ba đường ác ! Do đó phải tiếp tục “Chăn Trâu” cho đến lúc “Trâu Đen” trở thành “Trâu Trắng” hoặc đến được “Tào Khê ” mới thực sự là an toàn !

                                          “Một mình giữ một con Trâu Đất

    Xỏ mũi đem về chẳng ngớt chăn

    Đem đến Tào Khê mà thả quách

    Phăng phăng nước cuộn trái cầu lăn”.   

                                                                    (Tuệ Trung Thượng Sĩ).    

      Tóm lại, chỉ khi “ngộ nhập” được cái Rõ  hay cái Vô Vi thì mới đạt đến Vô Sanh mà không còn sợ bị Pháp Trần hay Vô Minh Nghiệp Chướng làm ô nhiễm :

  “Minh minh thường tự tại,
    Diệc niết mục tác quái.
    Kiến quái bất kiến quái,
    Kỳ quái tất tự hoại”.

(Rõ ràng thường tự tại
 Cũng dụi mắt làm quái
 Thấy quái chẳng thấy quái
 Quái ấy ắt tự hoại).  

      Đường kiếm “Tuyệt học Vô Vi” của Thiền Sư Huyền Giác quả thật  lợi hại, chẳng kém  lưỡi kiếm “Vô” sắc bén của Triệu Châu hay thanh gươm “Vô niệm” thần kỳ của Lục Tổ Huệ Năng : múa Kiếm Thần xé nát Hư Không, tịnh Sáu Căn phăng dấu Tổ tìm vết chân Phật, diệt Ngã Sở hòa cùng Biển Lớn, soi Gương Tâm khơi lại đầu nguồn tới cửa Vô Vi. Ngay đây chém đứt Vô Minh, nhảy thẳng vào đất Như Lai mở toang con mắt Huệ thấy Tánh ! Đây là con đường tắt mà Kiếm Khách giang hồ nơi nơi có thể “thao luyện” với Lưỡi Gươm “Bát Nhã” linh diệu, nét Kiếm “Vô Vi” tuyệt vời mà Thiền Sư Huyền Giác  đã vẽ từng nét rõ ràng trong Chứng  Đạo Ca :

                                        “Tranh tự Vô Vi Thực Tướng môn,

  Nhất siêu trực nhập Như Lai Địa”.

 (Sao bằng tự cửa Vô Vi ấy,

  Một nhảy thẳng liền đất Như Lai).   

      Trường hợp của Cư Sĩ Triệu Biện là khá đặc biệt, nhưng cũng từ cái cửa Vô Vi ấy nhảy thẳng liền Đất Như Lai. Ông ngồi yên lặng suối lòng không động như nước trong , tất cả Sáu Căn thanh tịnh là tận đầu nguồn Tâm tới cửa Vô Vi . Tiếng sấm nổ cửa lòng chợt mở, tiếng sấm là chất xúc tác là cơ duyên bên ngoài hỗ trợ làm cho cả Thân Tâm Ông nhảy qua khỏi cửa Vô Vi trực nhập Đất Như Lai…Là Cư Sĩ nhưng thật ra còn dính với đời khá nhiều. Ông là một Đại Quan dưới triều Tống, là tục gia, đệ tử của Thiền Sư Tương Sơn Pháp Tuyền. Nhân một hôm quan sự  rảnh rỗi, ngồi nghỉ ngơi tại công đường, bỗng nhiên khi nghe tiếng sấm nổ bên tai, tức thì hoát nhiên đại ngộ, Ông liền làm bài kệ: 

 “Mặc tọa công đường hư ẩn kỷ,                  (Ngồi lặng công đường luống tựa ghế,

   Tâm nguyên bất động trạm như thủy         Suối lòng không động như nước trong

   Nhất thanh tịnh lịch đỉnh môn khai,           Nghe sấm nổ cửa lòng chợt mở

   Hoán khởi tùng tiền tự gia để .               Này, lão đang ngồi ở Quê Nhà).

      Đối với Triệu Biện, đã có Tâm Tìm Đạo từ trước. Ông là một vị quan thanh liêm trọng Đạo Lý, có cái Tâm thuần đức, thanh khiết, lại có sẵn tấm bản đồ Đạo Lý trong tay.Tuy làm quan lớn, nhưng danh vọng tiền tài không buộc trói được Ông, làm việc chỉ vì lợi ích cho chúng sinh, chúng sinh đang cần Ông, khó thay thế được. Mặc dù vậy, sự đời vẫn làm Ông bận rộn, là những đám mây Vô Minh che tối  “Hang Tâm” của Ông. Tuy nhiên, những đám mây này đôi lúc cũng có “Khe Hở” và cũng lúc đó cả 6 căn của Thân Tâm Ông đang nghỉ ngơi thả lỏng bất động như mặt nước trong, tiếng sấm nổ bất chợt ngay lúc đó như một giọt nước tràn ly, làm cho cả Thân Tâm với 6 căn hổ dụng đồng loạt thức dậy một lượt, tạo một năng lượng siêu việt xuyên qua “ Khe Hở” của tấm màn Vô Minh xé toạc bức màn này ngộ nhập Bát Nhã.  Cái  “xé toạc” tấm màn Vô Minh nầy để ngộ nhập Bát Nhã cũng giống như cái “vạch tét cửa mặt” nhận ra ngay cái che đậy Càn Khôn tức thì nắm lấy, vượt khỏi cả căn và trần như Thiền Sư Quế Sâm khai thị :     

 “Tạt phá diện môn                   (Vạch tét cửa mặt,

   Cái phú Càn Khôn                  Che  đậy Càn Khôn.

   Quyết tu tiến thủ,                   Hẳn phải tiến lấy,

   Thoát khước căn trần”.         Vượt khỏi căn trần). 

      Thật ra Phật, Tổ và các Thiền Sư không có TU gì cả mà chỉ “ĐI TÌM CHÂN LÝ” và tìm ngay Cái Gốc, ngay tận Đầu Nguồn chứ không tìm nơi Ngọn:  

“Thẳng tận đầu nguồn phăng dấu Phật

  Chọn lá tìm cành ta chẳng đương”.    (Thiền Sư Huyền Giác).                              

      Các Ngài thương chúng sanh để ở trên đầu, dặn dò cặn kẽ: Đạo ngay trước mặt, không cần phải đi đâu xa, như Thiền Sư Sư Bị đã khai thị: 

     “Tột 10 phương thế giới là một hòn Minh Châu, ngươi hội để làm gì?”. Ngài chỉ thêm: “ Giống như người ngồi trong biển cả nước ngập lút đầu, còn đưa tay hỏi người xin được nước uống”.  

      Đạo đang ở trùm khắp, nơi nào cũng có: “Mở mắt ra là thấy Đạt Ma”. Ngay cõi TA BÀ đã là cõi Cực Lạc hay Niết Bàn, chính Đức Phật Thích Ca đã chứng ngộ và thành Phật ngay cõi Ta Bà này, cũng như các vị Tổ và vô số các vị Thiền Sư ngoại hạng…  

“Biển sâu nước khỏa cũng bằng

  Mây tan gió tịnh Bóng Trăng sáng lòa

  Cõi TA BÀ có tòa CỰC LẠC,

  Dòng sông MÊ biển GIÁC chẳng xa

  Y theo giáo pháp THÍCH CA

  Tự nhiên BẢN TÁNH  DI ĐÀ phóng quang”.

                                                 (Sám Thảo Lư).                                        

      Đạo Lớn đang ở trùm khắp cả Hư Không và ở ngay trên sự vật : từ hạt bụi, từ nguyên tử cho đến vũ trụ bao la!!!

“Ba ngàn thế giới tay sờ đụng,

  Mắt chẳng nhìn ra bởi Trí Mù”.     

      TRÍ MÙ  bởi vì TÂM MÊ. TÂM MÊ là một cơn ĐẠI MỘNG có đủ sáu ngã luân hồi .TÂM NGỘKHÔNG; là VÔ TRỤ NIẾT BÀN; là “MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA”.

 

                 

                               ĐẠI MỘNG                                       BỌT NƯỚC               

                        Một điểm Viên Quang bỗng hóa Rồng                  Từ thuở Vô Minh đã có ta,

                        Âm dương mây khí nổi cuồng phong                     Mãi mê lãng tử phải xa nhà

                        Hư Không dậy sóng Càn Khôn xuất                      Lắc lư Bọt Nước soi Trời Đất

                        Pháp Pháp tụ hình hiện núi sông                             Điên đảo thế đời, lạc cảnh Ma

                        Lục đạo TÂM MÊ ngàn dặm chướng                    Sinh tử chập chùng bao sóng gió

                        Luân hồi ĐẠI BỆNH thế gian đồng                       Tử sinh đưa đón mỗi sát na

                        Mộng du chư tướng phô trò huyễn                        Sắc Không Thân Bọt trôi tìm Bến

                         Chợt tỉnh về nhà SẮC tức KHÔNG.                     Chợt nhận Biển Nhà : Pháp Thân ta.

                                                                                   (Ngộ Thâm).                               

                                                                           NGỘ THÂM

                                                         MICHIGAN ,  August 24th, 2011.

                                                                              HẾT.