Thiền Tông

Uyển Lăng Lục

UYỂN LĂNG LỤC

HT Thích Thanh Từ

Uyển Lăng là tên một huyện của Trung Quốc đời Đường. Khi đó tướng quốc Bùi Hưu đang trấn nhậm tại huyện này. Bùi Hưu mời ngài Hoàng Bá về đây dạy cho ông lý thiền. Vì vậy lối dạy ở đây sáng sủa rõ ràng, chớ không như lối dạy ngài Lâm Tế. Quyển sách này do ông Bùi Hưu ghi lại lời dạy của ngài Hoàng Bá tại Uyển Lăng, nên có tên là Uyển Lăng Lục. Chúng ta phải hiểu người xưa, khi đối diện với người có các trình độ khác nhau, các ngài tùy duyên mà dạy, chớ không cố định.

Đối với tướng quốc Bùi Hưu ngài nói trắng ra, nhưng với ngài Lâm Tế ngài chỉ đánh mà không nói một câu. Nếu chúng ta cả quyết cho rằng thiền sư Hoàng Bá chỉ đánh, chớ không nói thẳng trắng ra thì không đúng. Hoặc bảo ngài chỉ nói trắng mà không đánh cũng không đúng. Tùy theo người đối duyên mà các Tổ sử dụng phương tiện để đạt được kết quả tốt nhất. Hiểu chỗ này chúng ta mới thấy hiện giờ thiền tông cần phải nói thẳng ra là một điều hợp lý. Với tướng quốc Bùi Hưu, ông không rảnh nghiên cứu chỗ này chỗ kia, còn ngài Lâm Tế là một thiền tăng đang du phương cầu học, làm sao cho ngài nghi, nghi chừng nào tốt chừng ấy, hai người hai hoàn cảnh khác nhau.
Chúng ta bây giờ cũng vậy, thời này người ta bận rộn đa đoan, đâu thể nay xách gói đầu này hỏi, mai xách gói đầu kia hỏi. Vì vậy chúng ta phải nói thẳng để người học nhận biết, ứng dụng tu thì có lợi hơn. Tôi nói như thế để quí vị hiểu tinh thần người xưa và tinh thần hiện nay của chúng ta tuy thấy khác mà không khác.
CHÁNH VĂN:
Bùi tướng công hỏi Ngài:
- Trong núi bốn năm trăm người, bao nhiêu người được pháp của Hòa thượng?
Ngài đáp:
- Người được không thể tính hết số. Vì sao? Vì đạo do tâm ngộ, không tại lời nói, nói năng chỉ là để giáo hoá kẻ đồng mông (trẻ thơ).
GIẢNG:

Nói năng là để dạy những người đồng mông tức kẻ sơ cơ, chớ đúng ra thì ai cũng ngộ được hết, vì ai cũng có tâm chân thật. Cho nên người nhận được chỗ chân thật tính không hết, vì ai ai cũng có sẵn. Dùng nói năng diễn đạt, đó là phương tiện vì kẻ đồng mông.
CHÁNH VĂN:
Hỏi: Thế nào là Phật?
Đáp: Tức tâm là Phật, không tâm là đạo. Chỉ không có cái tâm khởi tâm động niệm, có không, ngắn dài, ta người, năng sở… Tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm. Tâm như hư không, sở dĩ nói “chân pháp thân của Phật ví như hư không”. Không nên cầu riêng, có cầu đều khổ. Giả sử trải qua số kiếp như cát sông Hằng, tu hành lục độ vạn hạnh được Phật Bồ-đề cũng không phải cứu cánh. Vì cớ sao? Vì thuộc về nhân duyên tạo tác, nhân duyên nếu hết trở lại vô thường. Sở dĩ nói “Báo, Hóa không phải chân Phật, cũng không phải nói pháp”. Cốt biết tâm mình không ngã không nhân, xưa nay là Phật.
GIẢNG:

Chỗ này chỉ thẳng nên khó. Hỏi “thế nào là Phật?” Nếu chúng ta được hỏi câu này sẽ trả lời ra sao? Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Giảng như vậy thì chỉ biết ông Phật bên ngoài là đức Thích Ca thôi, chớ không biết được ông Phật của mình.
Ở đây ngài chỉ thẳng tức tâm là Phật, chính ngay tâm mình là Phật chớ không có Phật nào ở ngoài tâm. Nhưng nói không tâm là đạo thì có mâu thuẫn không? Trước nói tức tâm là Phật, bây giờ nói không tâm là đạo, như vậy có tâm không? Câu này nhiều người lầm lẫn. Tức tâm là Phật, không tâm là đạo, hai chữ tâm đó khác nhau chỗ nào? Tâm trước và tâm sau là một hay hai? Không phải một. Tâm trước là tâm chân thật bất sanh bất diệt cho nên gọi tức tâm là Phật, tâm đó là Phật. Không tâm là đạo là không tâm sanh diệt, tâm sau là tâm sanh diệt. Khi nào tâm sanh diệt lặng là đạo. Những chữ này không khéo rất dễ hiểu lầm, dường như mâu thuẫn vậy. Tức tâm là Phật, nghĩa là ngay nơi tâm chân thật của mình là Phật, không tâm là đạo nghĩa là không tâm sanh diệt, ấy là đạo.
Chỉ không có cái tâm khởi tâm động niệm, có không, ngắn dài, ta người, năng sở… không các tâm đó là đạo. Như vậy tìm đạo ở đâu? Bây giờ có người xách gói lên núi Cấm, núi Tà Lơn… để tìm đạo. Như vậy có đúng không? Ở chỗ không tâm, Lục Tổ nói xưa nay không một vật, không một vật thì có tâm gì? Thấy được chỗ đó là thấy đạo. Cho nên Ngũ Tổ mới gọi Lục Tổ vào thất giảng kinh Kim Cang cho nghe.
Không tất cả tâm niệm có không, ngắn dài, ta người, năng sở tức là không tất cả tâm niệm đối đãi. Ai lặng hết tâm đối đãi thì người đó thấy đạo. Như vậy đạo dễ tìm hay khó tìm? Chỉ cần mình lặng tâm đối đãi, nghĩ tốt nghĩ xấu, nghĩ phải nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua lặng xuống hết, ngay đó là đạo, không tìm kiếm đâu xa. Chúng ta ngày nay gần đạo hay xa đạo? Đạo rất gần, nhưng vì bọn phân chia phải quấy che mất nên không thấy, do không thấy thành xa. Nếu những phân biệt hơn thua, phải quấy lặng hết thì đạo ngay trước mắt, khỏi tìm kiếm đâu xa.
Người tu nào còn có tâm hơn thua phải quấy thì đạo vắng bóng, bao giờ tâm ấy lặng thì đạo hiện tiền. Tâm hơn thua phải quấy ai sắp đặt cho mình, Thượng đế sắp phải không? Nếu Thượng đế sắp thì đành chịu thua, đằng này quyền của mình khởi nghĩ, như vậy là chuyện nắm trong tay rồi. Chúng ta có quyền khởi, cũng có quyền bỏ. Việc gì thuộc quyền của mình thì đó là việc trong tầm tay. Việc trong tầm tay mà nói khó là chuyện vô lý. Nhưng nói dễ cũng không đúng, vì dễ tại sao bỏ không được. Như vậy mới thấy việc tu hành cũng dễ mà cũng khó. Ai một phen buông là buông tất cả thì rất dễ. Ai nửa buông nửa nắm thì suốt đời không thấy đạo. Cho nên người tu phải can đảm, một buông thì tất cả đều buông, có thế mới thỏng tay vào chợ được. Còn người nào vừa buông rồi tiếc nắm lại thì suốt đời không ra khỏi nhà lửa tam giới.
Tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm. Đây là xác định lại tâm mình. Tâm nào? Tâm liễu liễu thường tri, không sanh không diệt. Tâm đó là Phật. Cho nên nói tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm.
Tâm như hư không, sở dĩ nói “chân pháp thân của Phật ví như hư không”. Tại sao tâm như hư không? Câu này đa số người học Phật bị lầm lẫn. Nói tâm như hư không, như vậy tâm có hay không? Hư không thì trống rỗng, tâm như hư không thì tâm trống rỗng không có gì hết, sao gọi là Phật được? Đây là điều rất khó. Nếu không có kinh nghiệm trong sự tu, làm sao biết được chỗ này.
Khi chúng ta khởi niệm phân biệt về người thì có bóng người, khởi nghĩ về cảnh liền có bóng cảnh, khi không khởi nghĩ tất cả mà vẫn thấy vẫn nghe v.v… thì cái thấy nghe đó có phải tâm không? Biết tức là tâm. Cái biết thấy nghe xúc chạm ấy không có tướng mạo. Do không tướng mạo nên giống như hư không. Vì vậy nói “chân pháp thân của Phật ví như hư không”. Pháp thân chân thật ví như hư không mà hằng giác. Đó là điểm đặc biệt. Đã hằng giác làm sao nói không, nhưng không có hình bóng làm sao nói có. Tâm chân thật hiện tiền đó chúng ta đang có nhưng không sử dụng được, chỉ sử dụng tâm sanh diệt đuổi theo cảnh theo người. Vì vậy tâm sanh diệt che phủ pháp thân chân thật của chính mình.
Không nên cầu riêng, có cầu đều khổ. Bởi vì tâm chân thật không có tướng mạo, làm sao tìm cầu. Nếu càng cầu, càng tìm thì càng xa, không có lợi ích gì hết nên đều khổ.
Giả sử trải qua số kiếp như cát sông Hằng, tu hành lục độ vạn hạnh được Phật Bồ-đề cũng không phải cứu cánh. Kinh Đại thừa dạy chúng ta tu các pháp lục độ vạn hạnh để chứng quả Bồ-đề, nhưng tại sao Tổ bảo nếu chứng được Bồ-đề cũng không phải cứu cánh. Đó là những vấn đề chúng ta cần phải hiểu rõ. Người còn tu là còn dùng phương tiện sanh diệt, chuộng tốt bỏ xấu đều là trong tướng sanh diệt tạo tác. Tuy tướng tốt đẹp nhưng sanh diệt tạo tác thì không phải chân thật, không phải chân thật tức là không cứu cánh. Mục đích chư Tổ dạy chúng ta tu đi đến chỗ chân thật, đó mới là cứu cánh, nên ở đây gọi là Tối thượng thừa.
Đại thừa là đạo Bồ-tát, tu Lục độ vạn hạnh. Thượng thừa là Phật đạo, như kinh Pháp Hoa nói một Phật thừa, đó là Thượng thừa. Còn Tối thượng thừa là đạo gì? Là đạo tâm, tâm tức là đạo, chỉ thẳng cái chân thật sẵn có nơi mỗi người. Tất cả những thành tựu đạt được do dụng công tu hành đều nằm trong phương tiện, chưa phải là cứu cánh. Chỗ cứu cánh chân thật bất sanh bất diệt, không do dụng công mà được cho nên gọi là Tối thượng thừa.
Vì cớ sao? Vì thuộc về nhân duyên tạo tác, nhân duyên nếu hết trở lại vô thường. Tất cả công đức do chúng ta tạo ra đều nằm trong sanh diệt nên có ngày cũng hết, vì vậy nói vô thường.
Sở dĩ nói “Báo, Hoá không phải chân Phật, cũng không phải nói pháp”. Cốt biết tâm mình không ngã không nhân, xưa nay là Phật. Báo là báo thân Phật, Hóa là hóa thân Phật nói pháp. Hai thân này không phải Phật thật. Như chúng ta thấy Đức Phật Thích Ca sanh ra ở Ấn Độ, tu hành bao nhiêu năm khổ hạnh, đi giáo hóa bao nhiêu năm, đó là báo thân Phật. Báo thân Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, tu hành đắc đạo giáo hóa chúng sanh, có vô lượng công đức. Nhưng bây giờ thân đó còn không? Không còn. Nếu Phật là thân đó thì Phật ắt là sanh diệt.
Chỉ có Phật từ nơi tâm mới là chân thật. Vì vậy cốt biết tâm mình là không ngã, không nhân, xưa nay là Phật, đó mới là Phật thật, không có sanh diệt. Phật này có cần chúng ta tu cho ngài không? Tất cả công phu tu của mình tô điểm cho Phật đẹp thêm hay sao? Phật nào thuộc tô điểm, Phật đó đều không thật. Phật thật không có tô điểm. Muốn nhận ra Phật thật chỉ đòi hỏi chúng ta một việc, đó là buông hết tất cả niệm sanh diệt đối đãi. Phật thật đã sẵn có từ thuở nào, mà chúng ta không thấy là vì kẹt trong sanh diệt. Bây giờ buông hết tất cả niệm sanh diệt thì Phật thật hiện ra, đó mới là chân Phật hay pháp thân Phật. Còn Phật do tu, có tướng tốt, đó là Phật sanh diệt. Chúng ta phải hiểu cho thấu đáo lý này, mới có thể tiến tu không nghi ngờ.
Phật dạy tu Lục độ vạn hạnh, nghĩa là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ, tất cả đều nằm trong tướng sanh diệt. Nếu tu được hết những pháp này thì chúng ta sạch mọi lỗi lầm, không còn gây đau khổ cho người khác, đem lại sự an vui cho chúng sanh.
Nhưng đó chỉ là tướng sanh diệt, chưa phải cứu cánh. Cứu cánh phải trở về với Phật thật của chính mình. Phật đó không cần chúng ta tu, chỉ cần chúng ta nhận ra bằng cách buông bỏ hết những tướng sanh diệt đang che lấp Phật thật của mình. Như vậy là tu.

CHÁNH VĂN:
Nếu có chỗ kiến chấp tức là ngoại đạo. Ngoại đạo ưa các kiến chấp. Bồ-tát đối các kiến chấp không động.

GIẢNG:
Quí vị nhớ kiến chấp là ngoại đạo. Tại sao? Vì họ hay nghiêng lệch một bên, hoặc chấp có hoặc chấp không, hoặc chấp phàm, hoặc chấp thánh v.v… đủ thứ chấp. Tóm lại chấp chặt một bên là ngoại đạo. Người tu Phật không cho dính bên nào hết. Cho nên nói “Bồ-tát đối các kiến chấp không động”.

CHÁNH VĂN:

Như Lai tức nghĩa “như” của các pháp. Nên nói “Di Lặc cũng như, các thánh hiền cũng như. Như tức không sanh, như tức không diệt, như tức không thấy, như tức không nghe”.

GIẢNG:
Chữ “như” đây là “như như”. Như Lai là chỉ cho Đức Phật, Ngài không có dấy động, không có kẹt mắc, đối với các pháp không dính không mắc, tất cả đều như như cho nên gọi là Như Lai. Ở đây dẫn trong kinh: “Di Lặc cũng như, các thánh hiền cũng như, như tức không sanh, như tức không diệt, như tức không thấy, như tức không nghe”. Có người hiểu lầm như tức không thấy, như tức không nghe là mù tối hay điếc rồi. “Như” thấy mà không thấy, “như” nghe mà không nghe. Tại sao? Thấy tất cả mà không dính gì hết thì thấy như không thấy, nghe tất cả mà không dính gì hết thì nghe như không nghe. Tâm được “như” thì cả ngày đi đứng nằm ngồi đều sống trong cảnh giới Phật. Ngược lại cứ lăng xăng lộn xộn, phân biệt hay dở, tốt xấu, hơn thua cả ngày thì sống với chúng sanh.

CHÁNH VĂN:

Đảnh của Như Lai tức là cái thấy tròn, cũng không cái thấy tròn nên không rơi bên thấy tròn. Do đó thân Phật vô vi không rơi vào các số, tạm lấy hư không làm dụ, tròn đồng thái hư không thiếu không dư, rảnh rang vô sự, chớ gắng biện cảnh ấy, biện đến bèn thành thức.

GIẢNG:

Chúng ta thường nghe nói tướng trên đảnh của Phật là tướng tròn nhưng ở đây nói không phải tướng tròn, vì thể của Phật là thể giác, trùm khắp không thiếu sót chỗ nào, nên nói tròn đồng thái hư. Thái hư bao lớn thì tánh giác cũng như vậy.

Thân Phật vô vi không rơi vào các số, chữ vô vi ở đây khác với chữ vô vi của Lão Tử. Lão Tử nói vô vi là không làm, còn nhà Phật nói vô vi là đối với hữu vi. Trên thế gian này, những gì có đủ ba tướng sanh, trụ, diệt hoặc bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt đều gọi là hữu vi. Còn cái không có ba hoặc bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt thì gọi là vô vi. Vô vi là không sanh, không sanh nên không trụ, không diệt. Pháp thân Phật không sanh nên không diệt, vì vậy nói giải thoát sanh tử.

Chúng ta tu ai cũng mong giải thoát sanh tử, nhưng giải thoát bằng cách nào? Nhiều người hiểu lầm giải thoát sanh tử là sống hoài, lên cảnh bồng lai làm tiên sống thật lâu là giải thoát sanh tử. Hiểu như vậy mới đúng với chân lý Phật dạy. Ở đây chỉ thẳng tức tâm là Phật. Tức tâm là chỉ cho Phật pháp thân, chớ không phải Phật báo thân hóa thân. Phật pháp thân không sanh không diệt, chúng ta nhận ra Phật không sanh không diệt ngay đời này thì liền được vô sanh.

Chúng ta buông hết tất cả kiến chấp thì được "như", như tức là Phật. Từ sáng đến chiều tâm mình luôn như thì sao, giải thoát sanh tử chưa? Khó nói. Bởi vì thân tứ đại sẽ tử, làm sao nói giải thoát sanh tử được. Như Phật giác ngộ viên mãn rồi nhưng đến tám mươi tuổi Ngài cũng tịch, đâu thể nói thân này giải thoát sanh tử. Giải thoát sanh tử là pháp thân bất sanh bất diệt, vì nó không còn sanh lần thứ hai, thứ ba nữa nên gọi là giải thoát sanh tử. Đa số người lại mê chấp thân tứ đại, muốn nó còn hoài, nhiều khi thân bệnh nặng hoặc xấu xí mà cũng thương nó như thường. Nó bệnh cũng thương, nó xấu cũng thương, không bao giờ ghét nó. Do đó mất thân này liền kiếm thân khác, bỏ không được. Cứ thế sanh đi tử lại vô số kiếp, khổ đau không biết bao nhiêu. Vậy mà ai cũng thích lăn hoài trong ấy.

Muốn thoát khỏi sanh tử thì đừng dính, đừng chấp tất cả pháp hiện tại ở thế gian, sống trở lại với tâm thanh tịnh của mình. Nếu còn hay phân biệt là sống với thức sanh diệt, mà thức sanh diệt thì phải chuốc nghiệp sanh diệt.

CHÁNH VĂN:

Hỏi: Nếu như vậy chỗ nào là Bồ-đề?

Đáp: Bồ-đề không phải chỗ, Phật cũng không được Bồ-đề, chúng sanh cũng không mất Bồ-đề, không thể do thân mà được, không thể lấy tâm mà cầu, tất cả chúng sanh tức là tướng Bồ-đề.

GIẢNG:
Tại sao nói Bồ-đề không phải chỗ, Phật cũng không được Bồ-đề? Bởi vì Bồ-đề không có tướng mạo, Bồ-đề là tánh giác sẵn có của chúng ta. Đã không tướng mạo làm sao có chỗ nơi. Bởi tánh giác sẵn có nên chúng sanh không mất Bồ-đề, Phật cũng không được Bồ-đề. Không thể do thân mà được đó là chỗ nơi, không thể lấy tâm mà cầu đó là hình tướng, tất cả chúng sanh tức là tướng Bồ-đề. Vì tất cả chúng sanh đều sẵn có tánh giác, không phải riêng Phật, nhưng Phật sớm thức tỉnh sống được với tánh giác nên gọi là Phật. Chúng sanh mê lầm chạy theo điên đảo vọng tưởng nên không thấy Bồ-đề, vì vậy gọi là chúng sanh. Nên biết Bồ-đề không phải dành riêng cho Phật, cũng không phải chúng sanh vô phần, khác nhau vì một bên tỉnh, một bên mê.

CHÁNH VĂN:

Hỏi: Thế nào là phát tâm Bồ-đề?

Đáp: Bồ-đề không sở đắc, nay ông chỉ phát tâm không sở đắc, quyết định không được một pháp, tức là tâm Bồ-đề.

GIẢNG:

Bồ-đề không sở đắc, nay ông chỉ phát tâm không sở đắc, quyết định không được một pháp, tức là tâm Bồ-đề. Thường thường người tu cần phải phát tâm Bồ-đề, tại sao ở đây nói Bồ-đề không sở đắc, nay ông chỉ phát tâm không sở đắc. Phát tâm không sở đắc là tâm nào? Là tâm Bát-nhã “dĩ vô sở đắc cố”. Do không có sở đắc, Bồ-tát y Bát-nhã được quả Bồ-tát, Phật y Bát-nhã được quả Phật. Như vậy phát tâm Bồ-đề là phải vận dụng trí tuệ Bát-nhã chiếu soi tất cả pháp, thấy không có một pháp thật. Vì không một pháp thật, có gì là sở đắc. Thấy không có sở đắc là tâm Bồ-đề, như vậy tâm Bồ-đề là tâm vô sở đắc.

Chúng ta tu phát tâm cầu đắc hay vô sở đắc? Đa số ai tu cũng cầu được thành Phật, thành Bồ-tát, thành A-la-hán, chớ không ai tu để được vô sở đắc. Nếu không có vô sở đắc thì không có Phật, không có Bồ-tát, vì Phật Bồ-tát đều từ trí tuệ Bát-nhã, thấy tất cả các pháp như huyễn, nên các ngài không dính không kẹt, không bị phiền não che đậy, do đó tâm giác ngộ sáng suốt tự hiển bày. Vì vậy gọi là Bồ-đề.

CHÁNH VĂN:

Bồ-đề không có chỗ trụ, thế nên không có đắc, nên nói “Ta ở nơi Phật Nhiên Đăng không một chút pháp có thể được, Phật liền thọ ký cho ta”.

GIẢNG:

Nói tới Bồ-đề là nói tới giác ngộ, mà giác ngộ thì không thấy có một pháp nào thật, nên không có chỗ trụ. Không có chỗ trụ là không có sở đắc. Vì vậy trong kinh Kim Cang, Phật dạy “Ta ở nơi Phật Nhiên Đăng không một chút pháp có thể được, Phật liền thọ ký cho ta”. Vì không một chút pháp có thể được là vô sở đắc, nên Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Đức Thích Ca sau này sẽ thành Phật. Muốn thành Phật thì Bồ-tát hay chúng sanh phải tu đến chỗ vô sở đắc. Chúng ta tu cầu đắc cầu chứng nhiều quá nên không thành Phật được.

CHÁNH VĂN:

Biết rõ tất cả chúng sanh vốn là Bồ-đề, không lẽ lại được Bồ-đề.

GIẢNG:

Tất cả chúng sanh đều có tánh giác, là có Bồ-đề. Nếu tu được Bồ-đề thì chẳng lẽ thêm Bồ-đề thứ hai sao? Cho nên biết tất cả chúng sanh đều có tánh Bồ-đề thì không được Bồ-đề nữa.

CHÁNH VĂN:

Nay ông nghe nói phát tâm Bồ-đề bèn cho là có một tâm học làm Phật.

GIẢNG:

Nghe nói phát tâm Bồ-đề tưởng có một tâm riêng học làm Phật, không ngờ phát tâm Bồ-đề là phá hết tất cả những kiến chấp các pháp là thật, phải quấy v.v… không dính nữa là Bồ-đề hiện, chớ không có tâm Bồ-đề ở đâu đến.

CHÁNH VĂN:

Chỉ nghĩ làm Phật, dù ông tu ba a-tăng-kỳ kiếp cũng chỉ là Phật báo thân, hóa thân cùng với Phật chân tánh bản nguyên của ông có gì liên hệ, nên nói “cầu Phật có tướng bên ngoài, cùng ông không tương tợ”.

GIẢNG:

Nếu chúng ta nghĩ tu để được làm Phật thì dù tu tới ba vô số kiếp cũng chỉ là Phật báo thân, Phật hóa thân, cùng với Phật chân tánh tức Phật pháp thân không có gì liên hệ. Tại sao? Người ta cứ quen nghĩ tu đủ tất cả công đức như Phật, chừng đó sẽ có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp v.v… đi giáo hóa chúng sanh, đó là thành Phật. Như vậy muốn biết ai gần thành Phật hay chưa cứ xem họ được bao nhiêu tướng tốt. Người nào được mười lăm, hai chục tướng thì nghĩ hơi khá rồi, nếu ba chục tướng xem ra gần thành Phật. Nếu vậy thử hỏi đức Phật có ba mươi tướng tốt, hiện giờ ở đâu? Thành tro bụi hết rồi, nếu còn thì chỉ là những viên xá lợi nho nhỏ, chớ không phải ba mươi hai tướng tốt. Nên biết đức Phật có đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp là Phật báo thân. Đức Phật thị hiện nơi này nơi nọ, giáo hóa chúng sanh là Phật hóa thân. Phật báo thân, Phật hoá thân là Phật sanh diệt. Chỉ có Phật pháp thân là miên viễn, bất sanh, bất diệt, tất cả chúng sanh hiện giờ có sẵn Phật này.

Như vậy chúng ta muốn thành Phật miên viễn hay Phật tạm thời? Đa số muốn thành Phật ba mươi tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, còn Phật miên viễn buồn quá, không thấy hình tướng ra sao hết. Đã có tướng thì sanh diệt, kinh Kim Cang nói “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Đức Phật có tướng cũng sanh diệt, chúng ta tu phải đạt được Phật pháp thân mới không bị sanh diệt. Cho nên ở đây nói “cầu Phật có tướng bên ngoài, cùng ông không tương tợ”, cầu làm Phật có hình có tướng thì không phải Phật pháp thân của chính mình, vì vậy cùng ông không tương tợ.

CHÁNH VĂN:

Hỏi: Xưa đã là Phật sao lại có tứ sanh, lục đạo các thứ hình mạo chẳng đồng?

GIẢNG:

Ai cũng có Phật tánh là đã thành Phật lâu rồi, tại sao lại luân hồi trong Lục đạo, có tứ sanh v.v…

CHÁNH VĂN:

Đáp: Chư Phật thể tròn không tăng giảm, trôi vào Lục đạo mỗi chỗ đều tròn, trong muôn loài mỗi mỗi đều là Phật.

GIẢNG:

Phật tánh là Phật pháp thân tròn đủ, không tăng không giảm. Nhưng vì theo nghiệp trôi lăn trong Lục đạo, tuy trôi lăn trong Lục đạo nhưng tánh Phật cũng vẫn tròn đủ, trong muôn loài mỗi mỗi đều có tánh Phật.

CHÁNH VĂN:

Ví như có viên thủy ngân, phân tán các chỗ, mỗi mảnh đều tròn, nếu khi không phân chỉ là một khối. Đây là một tức tất cả, tất cả tức một.

GIẢNG:

Ví dụ viên thủy ngân được chia ra trong mỗi chung nhỏ, ở chung nào nó cũng tròn. Nếu nhập chung lại thì nó thành một khối thủy ngân tròn. Một là tất cả, tất cả là một. Phật tánh vốn không hai, không khác nhưng mỗi chúng sanh mang một Phật tánh riêng, chớ không phải chung lại.

CHÁNH VĂN:

Các thứ hình mạo dụ như nhà cửa, bỏ nhà lừa vào nhà người, bỏ thân người đến thân trời, cho đến nhà Thanh văn, Duyên-giác, Bồ-tát, Phật đều là chỗ lấy bỏ của ông. Do đó có sai khác chớ tánh bản nguyên đâu có sai khác.

GIẢNG:

Trôi lăn trong lục đạo luân hồi hay chuyển lên Tứ thánh cũng là chuyện lấy bỏ thôi. Lấy bỏ hình thức này, hình thức kia chuyển dời mãi nhưng ông Phật của chúng ta vẫn không hai. Ai ai cũng sẵn có ông Phật mà quên đi, nên Bồ-tát Thường Bất Khinh gặp mọi người đều bái nói “tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật”. Chuyện thành Phật của chúng ta là nhất định rồi, vì ai cũng có chủng tánh Phật nhưng vấn đề là gần hay xa thôi. Mười đời, trăm đời, muôn triệu đời kiếp… cũng sẽ thành hết.

Như vậy trên đường tu, không phải chúng ta tìm kiếm những gì xa lạ ở chân trời gốc biển, hay trong cõi hư không vô tận, mà chỉ nhìn thẳng nơi mình, biết được mình có tánh Phật. Buông xả những nghiệp tập trong lục đạo chúng sanh, từ từ nghiệp tập sạch thì tánh Phật hiện ra, không tìm ở đâu xa hết. Người tu là thực tế chớ không phải viễn vong. Bởi Phật là giác, giác tức tri giác, biết và sáng. Như hiện giờ quí vị ngồi nghe giảng, chỉ nghe thôi không nghĩ, không tính, không suy, không nhớ tưởng gì hết, lúc đó có nghe biết không? Nghe biết rõ ràng. Chúng ta sẵn có tánh nghe biết, không đợi suy nghĩ mới có. Suy nghĩ tốt, suy nghĩ xấu, suy nghĩ bị chê được khen v.v… mới sanh phiền não, còn thường nghe như vậy đâu có phiền não, trong sáng rõ ràng.

Trong khi nghe giảng nếu quí vị chú tâm, lúc đó không có niệm sanh diệt, chỉ là ròng rặc tánh nghe thanh tịnh, làm sao không có Phật. Niệm nghĩ suy mới là tướng sanh diệt, còn tánh nghe thanh tịnh có sanh diệt không? Không. Vậy mà bảo mình luân hồi lục đạo, tội nghiệp chưa? Chúng ta bỏ của quí nhà mình, chạy theo điên đảo rốt cuộc phải chịu luân hồi. Do đó Phật Tổ thương chỉ dạy, nhắc tới nhắc lui để chúng ta nhớ mình đang có cái chân thật, đừng quên mất, quên mất thì đi trong luân hồi đau khổ.

Ở đây nói các thứ hình mạo trong lục đạo luân hồi dụ như nhà cửa, bỏ nhà lừa vào nhà người. Nhà lừa tức là tái sanh làm lừa, bỏ thân lừa được trở lên làm người là tới nhà người. Thân này như nhà cửa, vô nhà này một thời gian, bỏ ra đi tới nhà khác, liên miên như vậy. Quí vị muốn đi hoài trong các nhà đó hay muốn ra khỏi? Đi hoài trong đó thì nhọc nhằn khổ sở, chi bằng chúng ta ra phắt một cái, không thèm tới nhà nào hết. Nếu sắp lâm chung vị nào ôm lòng sân hận oán thù thì đi vào nhà ngạ quỷ, súc sanh hoặc hơn nữa là địa ngục. Vào đó lâu ngày hết nghiệp sân hận được trở ra, ra rồi đi tới nhà khác, nhà nào thích thì tới. Như vậy đi ra đi vào không biết bao nhiêu kiếp luân hồi.

Phật thương chúng sanh tại sao không thức tỉnh, có Phật sẵn mà cứ ôm Phật đi trong luân hồi, tội nghiệp Phật quá. Ông Phật bị mình cột mấy sợi dây nghiệp lôi đi theo, đi cho đả rồi khổ. Nhưng ông Phật theo mình có khổ không? Không khổ. Sao vậy? Bởi vì Phật đâu có bị nghiệp, mình bị nghiệp chớ Phật không bị nghiệp. Ví dụ như khi chúng ta bị ai chửi, mình nghe tức trong bụng, đó là mình tức giận, chớ tánh nghe đâu có giận. Tuy nhiên từ nghe mình sanh ra tức giận, đó là nghiệp, từ nghiệp sanh khổ phiền đủ thứ, song tánh nghe không có khổ phiền. Cho nên tuy chúng sanh vào địa ngục mà Phật không bị khổ, nhớ như vậy mới hiểu câu “mình ở đâu thì Phật ở đó, mình khổ còn Phật không khổ”.

Nếu chúng ta biết trở về Phật của mình thì còn khổ không? Sống được với Phật làm sao khổ. Ngược lại sống với tâm phàm tục, bị nó lôi kéo mới khổ. Từ các nhà lừa, nhà người, nhà trời, nhà Thanh văn, nhà Duyên-giác, nhà Bồ-tát, nhà Phật cũng đều do tâm lấy bỏ mà có, thành ra sai khác, chớ tánh bản nguyên đâu có sai khác. Sai khác là hình thức, công phu tu hành, còn tánh giác sẵn không bao giờ sai khác.

CHÁNH VĂN

Vì chướng tâm ông nên bị nhân quả quản thúc, đứng đi đều không có phần tự do…

GIẢNG

Vì trong tâm còn chướng, còn dính mắc nên bị nhân quả quản thúc, đứng đi đều không có phần tự do. Như chúng ta không bằng lòng người nào, mình đang đi mà thấy họ đứng đàng kia thì không muốn đi về hướng đó nữa. Vì trong tâm không vừa ý nên có chướng.

Ngược lại nếu mình thích người nào, dù chưa muốn đi con đường đó nhưng thấy họ đứng đàng kia cũng bước tới. Như vậy cả hai đều do nhân quả quản thúc, nên ta mất tự do. Có khởi niệm thì nó dẫn mình đi đường này đường nọ, nếu không tâm thì người ta là người ta, mình là mình, cần đi thì đi, không cần thì thôi, không có gì vướng bận hết.

CHÁNH VĂN

Vì thế pháp Bồ-đề… vốn không phải có, Như Lai nói ra đều vì giáo hóa người, ví như cầm lá vàng nói là vàng để vỗ trẻ con khóc. Cho nên thật không có pháp gọi là A-nậu Bồ-đề.

GIẢNG:

Pháp Bồ-đề không có thực, song Đức Phật vì giáo hóa chúng sanh nên ngài nói đây là pháp Bồ-đề tâm, kia là cầu Bồ-đề quả. Đó là phương tiện thôi.

Ví như cầm lá vàng nói là vàng để vỗ trẻ con khóc. Trong kinh thường hay ví dụ như bà mẹ sửa soạn đi chợ, đứa nhỏ ở trong nhà thấy vậy đòi đi, không cho đi nó khóc. Bà mẹ mới lượm lá vàng ở ngoài đưa nói “mẹ cho con vàng đây”. Nghe vàng nó mừng quá hết khóc, nhưng thật ra trong tay chỉ là lá vàng chớ không có vàng. Cũng vậy, Phật nói tất cả pháp là phương tiện để độ chúng sanh, giống như ngón tay chỉ mặt trăng. Ngón tay không phải là mặt trăng, nương ngón tay để thấy mặt trăng, bởi vì mặt trăng mới là chỗ cứu kính, chân thật. Chúng ta thường lầm cho ngón tay là mặt trăng nên không nhận ra được chỗ chân thật.

Nói tới tu thì phải tụng kinh, ngồi thiền. Tụng kinh ngồi thiền là ngón tay, nhưng người tu cứ lấy đó làm sở trường, không biết Phật muốn chỉ cái gì. Nếu biết nương lời Phật dạy nhận ra bản tâm, thấy được Phật tánh của mình, đó mới gọi là biết dùng phương tiện để đạt được cứu kính. Đằng này Phật nói ra chúng ta đọc lại cho Phật nghe. Thầy dạy trò học thuộc lòng, đọc lại cho thầy nghe. Cứ thế làm hoài không biết đi tới đâu?

Gốc của đạo không phải ở chỗ ngôn ngữ, kinh điển, mà từ ngôn ngữ kinh điển chúng ta nhận ra cái gốc nơi tự tâm. Tự tâm mình là tánh Bồ-đề nhưng chúng ta lại không biết, cứ chạy theo bên ngoài, đó là sai lầm. Cho nên ở đây nói không có pháp gọi là A-nậu Bồ-đề.

CHÁNH VĂN

Nếu đã lãnh hội được ý này, đâu cần phải ở chỗ riêng rẽ, chỉ tùy duyên tiêu nghiệp cũ, lại chớ tạo nghiệp mới, trong tâm sáng rỡ, nên nói “khi xưa thấy biết cần phải dẹp sạch”.

GIẢNG:

Khi lãnh hội được ý này rồi, không cần ở riêng một mình chỗ vắng, chỉ tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc y xiêm. Như vậy ở một mình trong thất cũng tốt, ra thất tùy chúng sanh tùy huynh đệ cũng tốt. Ở đâu cũng tùy duyên thôi. Nếu đòi ở trong thất mới tu, ra ngoài tu không được hoặc có người bảo bên ngoài lăng xăng thấy khỏe, vô thất bó buộc quá không tu được. Cả hai hạng người này có tùy duyên không? Không. Thành ra chúng ta sống tùy duyên ở chỗ vắng một mình cũng tốt, xông xáo hợp tác với huynh đệ cũng tốt. Đó là tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm.

Chúng ta cần hiểu rõ về câu “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ”. Ví dụ lúc trước mình có làm mích lòng một huynh đệ khiến vị ấy buồn. Bây giờ mỗi khi thấy mặt mình, vị ấy không nói chuyện chỉ ngó ngang thôi, mình làm sao đây? Thấy mình vị ấy không vui, nhưng mình cứ vui chào lại, chào riết người ta cũng sẽ hết giận. Còn thấy người ta không nhìn, mình cũng ngó ngang chỗ khác thì biết chừng nào hết nghiệp cũ? Đó là tu “tùy duyên tiêu nghiệp cũ”. Đã có nghiệp cũ rồi, gặp duyên không thuận chúng ta phải khéo xử sự để nghiệp cũ mòn mất đi. Đó là hiểu rõ “tùy duyên tiêu nghiệp cũ”. Hồn nhiên mặc áo xiêm tức là mặc áo ăn cơm một cách thanh tịnh, yên lặng không dính niệm nào, nghĩ suy nào.

Nếu ai tùy duyên tiêu nghiệp cũ rồi, lại chớ tạo nghiệp mới, trong tâm sáng rỡ nên nói “khi xưa thấy biết cần phải dẹp sạch”. Tất cả thấy biết trước kia ngày nay phải dẹp sạch. Chớ tạo nghiệp mới, là người khôn ngoan. Nghiệp cũ tùy duyên cho tiêu, nghiệp mới đừng tạo nữa. Nếu người ta giận, mình khỏa lấp lần lần bớt giận, mai mốt chọc nữa thì chừng nào hết nghiệp? Cho nên bớt nghiệp cũ rồi thì thôi đừng tạo thêm nữa. Như vậy trong tâm mới sáng rỡ. Cho nên nói “khi xưa thấy biết cần phải dẹp sạch”, tất cả niệm buồn thương giận ghét trước đó bây giờ dẹp sạch hết.

CHÁNH VĂN

Kinh Tịnh Danh nói: “Trừ bỏ những gì đã có”.

GIẢNG:

Tức là trừ bỏ tất cả những gì đã có trước kia cho sạch hết.

CHÁNH VĂN

Lúc Ngài ở chỗ Tổ Nam Tuyền, một hôm toàn chúng đi hái trà. Nam Tuyền hỏi:
- Đi đâu ?
Ngài thưa:
- Đi hái trà.
Nam Tuyền hỏi:
- Đem cái gì hái ?

Ngài đưa con dao lên. Nam Tuyền bảo:
- Đại gia hái trà đi.
Một hôm Nam Tuyền bảo Ngài:
- Lão tăng ngẫu hứng làm bài ca “chăn trâu”, mời Trưởng lão hòa.
Ngài thưa:
- Tôi tự có thầy rồi.
Ngài từ giã đi nơi khác. Nam Tuyền tiễn đến cổng, cầm chiếc mũ của Ngài đưa lên hỏi:
- Trưởng lão thân to lớn mà chiếc mũ rất nhỏ vậy ?
Ngài thưa:
- Tuy nhiên như thế, đại thiên thế giới đều ở trong ấy.
Nam Tuyền bảo:
- Vương lão sư vậy.
Ngài bèn đội mũ ra đi.

GIẢNG

Nam Tuyền và Bá Trượng đều là đồ đệ của Mã Tổ. Khi đi hái trà, Ngài Nam Tuyền hỏi đem cái gì hái. Ngài đưa con dao lên, Nam Tuyền bảo cả nhà đi hái trà đi. Hỏi đem cái gì hái, thường thường mình có cái gì đưa cái ấy, chuyện hết sức bình thường. Hoàng Bá đưa con dao lên, Nam Tuyền bảo đại gia hái trà đi, không nói thêm câu nào. Như vậy chấp nhận hay không chấp nhận ? Nhà thiền không dùng ngôn ngữ, chỉ dùng hình ảnh để nói lên chỗ đó không có ngôn ngữ, cho nên ngài Nam Tuyền đã chấp nhận.

Một hôm Nam Tuyền bảo lão tăng ngẫu hứng làm bài ca chăn trâu, mời trưởng lão hòa. Ngài thưa tôi tự có thầy rồi. Tại sao mời hòa bài ca chăn trâu lại đáp tôi có thầy rồi. Nói tôi có bài ca chăn trâu mời trưởng lão hòa, tức là mời ngài vào dòng phái của tôi, cùng truyền bá Phật pháp. Ngài thưa tôi có thầy rồi, nghĩa là từ chối.

Bây giờ Ngài sửa soạn từ giã Nam Tuyền đi. Đến cổng, Nam Tuyền cầm chiếc mũ nói trưởng lão thân to lớn mà chiếc mũ rất nhỏ vậy. Câu này là câu dọ dẫm lần chót. Ngài đáp rất khéo, tuy nhiên như thế, cả đại thiên thế giới đều ở trong ấy. Tuy tướng mạo nó nhỏ vậy, mà trùm cả đại thiên sa giới. Do đó ngài Nam Tuyền cũng phải nể. Đó là những câu chuyện đối đáp khi tham vấn những bậc thiện tri thức. Rất là khéo, rất là đặc biệt.

CHÁNH VĂN

Sau, Ngài ở Hồng Châu chùa Đại An, đồ chúng tìm đến rất đông.
Tướng quốc Bùi Hưu trấn Uyển Lăng lập đại thiền uyển thỉnh Ngài đến thuyết pháp. Vì Ngài quá mến núi cũ nên để hiệu Hoàng Bá.

GIẢNG

 Lúc Ngài ở tại Uyển Lăng, đã có những pháp thoại này.

CHÁNH VĂN

Một hôm, thượng đường đại chúng vân tập, Ngài bảo:

Toàn là bọn ăn hèm, thế mà xưng hành khước để cho người chê cười. Chỉ cam thấy một ngàn tám trăm người đi chớ không chịu sự ồn náo. Tôi khi đi hành khước hoặc gặp dưới rễ cỏ có một cái ấy là đem hết tâm tư mà xem nó. Nếu biết ngứa ngáy khả dĩ lấy đãy đựng gạo cúng dường. Trong lúc đó, nếu dễ dàng như các ông hiện giờ thì làm gì có việc ngày nay. Trong nước Đại Đường chẳng có Thiền sư sao ?
Có một vị Tăng ra hỏi:

Bậc tôn túc ở các nơi họp chúng chỉ dạy, tại sao nói không Thiền sư ?

Ngài bảo:

Chẳng nói không Thiền, chỉ nói không Sư. Xà lê chẳng thấy sao, dưới Mã Tổ Đại Sư có tám mươi bốn người ngồi đạo tràng, song được chánh nhãn của Mã Tổ chỉ có hai ba người, Hòa thượng Lô Sơn là một trong số ấy.

GIẢNG

Tại sao người xưa lại có những lời nói hơi thô lỗ, cả chúng mà nói toàn là bọn ăn hèm. Cái gì ăn hèm ? Ở Việt Nam hồi xưa hay nấu rượu, bả rượu gọi là hèm, dùng cho heo ăn. Ngài nói toàn là bọn ăn hèm, tức bọn con lợn. Câu nói này nhiều người trách, tại sao Ngài nói những lời khinh bạc chúng quá vậy. Nhưng chúng ta phải hiểu Ngài muốn khích lệ, nhắc nhở mọi người cố gắng tu. Nhắc nhở mạnh mẽ như vậy, người ta mới có tâm vươn lên, nếu nói nhè nhẹ người ta coi thường. Vì vậy Ngài nói đã là bọn ăn hèm mà xưng hành khước cho người chê cười.

Ngài nói “Chỉ cam thấy một ngàn tám trăm người đi chớ không chịu sự ồn náo”. Thà là các ông bỏ đi, chớ còn ở đông ồn náo, ta không thích.

Ngài nhắc lại chuyện đi hành khước của Ngài. “Tôi khi đi hành khước, hoặc gặp dưới rễ cỏ có một cái ấy là đem hết tâm tư mà xem nó. Nếu biết ngứa ngáy khả dĩ lấy đãy đựng gạo cúng dường”. Ngài đi hành khước tức là đi tìm học nơi này nơi kia, gặp dưới rễ cỏ có một cái ấy, dưới rễ cỏ tức là một vật nhỏ nhất, tầm thường nhất, nếu thấy hơi lạ là đem hết tâm tư xem nó, tức là đem hết tâm tư nghiền ngẫm để thấu đạt nó.

“Nếu biết ngứa ngáy khả dĩ lấy đãy đựng gạo cúng dường”. Nếu nghiền gẫm thấy có gì hay, thì mới có thể nhận người cúng dường. Ngài đi hành khước, gặp Thiền sư có lời đạo lý, liền đem hết tâm tư xem xét nghiền ngẫm, chớ không lôi thôi. Như vậy mới thấy đạo. Còn chúng ta ngày nay thì sao ? Tới chỗ nào thấy vui thích thì ở, chớ không chịu nghiền ngẫm những cái hay, những điều sâu sắc. Người xưa dù gặp chuyện rất thường, cũng cố gắng tìm cho ra thâm ý. Nếu hiểu và thấy nó hay thực thì phải thành tâm cung kính tuân học chớ không thể lôi thôi được. Đó là ý nghĩa thâm trầm, diễn tả lại thời Ngài tìm học nơi các thiện tri thức.

Cho nên Ngài nói: “Trong lúc đó, nếu dễ dàng như các ông hiện giờ thì làm gì có việc ngày nay”. Nếu lơ mơ như các ông bây giờ thì làm gì có việc ngày nay. Cho nên người học đạo phải đem hết tâm tư của mình, khi được thấy, được nghe thiện tri thức chỉ dạy, tìm cho ra, hiểu cho thấu, như vậy mới gọi là học đạo. Chớ nghe rồi bỏ đó, không quan tâm, không tìm kiếm thì không biết chừng nào mới đến nơi đến chốn, tu chừng nào cho có kết quả.

Nói xong Ngài hỏi: “Trong nước Đại Đường chẳng có Thiền sư sao ?” Hỏi cả nước Đại Đường này chẳng có Thiền sư nào sao ? Bởi vì nếu học hiểu nghiên cứu không được gì hết, tức là không có thầy nào xứng đáng để học.

Có một vị Tăng ra hỏi:

Bậc tôn túc ở các nơi họp chúng chỉ dạy, tại sao nói không Thiền sư ?

Ngài bảo:

Chẳng nói không Thiền, chỉ nói không Sư.

Thiền có sẵn, từ Phật chí Tổ, cho đến chúng ta ngày nay ai cũng có sẵn hết, nên đâu phải không Thiền, mà chỉ không Sư thôi. “Xà lê chẳng thấy sao, dưới Mã Tổ Đại Sư có tám mươi bốn người ngồi đạo tràng, song được chánh nhãn của Mã Tổ chỉ có hai ba người, Hòa thượng Lô Sơn là một trong số ấy”. Hòa thượng Lô Sơn là Ngài Qui Tông. Chúng ta thường nghe nói Ngài Qui Tông ỉa chảy đầy đất. Có nhiều người tu học, nhưng đến nơi đến chốn không được mấy người, trong đó ngài Qui Tông được khen nhất, bằng câu nói Qui Tông ỉa chảy đầy đất. Đọc sách Thiền, người không có tí mùi vị Thiền không làm sao nếm, hiểu được. Đó là điểm khó của người mới tu học Thiền.

Ngài nói dưới Mã Tổ có tám mươi bốn người được nhận là thiện tri thức. Nhưng rốt cuộc dưới con mắt của Ngài, chỉ có hai ba vị tuyệt vời thôi, còn lại bao nhiêu cũng thường.

CHÁNH VĂN

Phàm người xuất gia phải biết có sự phần từ trước lại. Vả như, dưới Tứ Tổ, Đại sư Ngưu Đầu Pháp Dung nói ngang nói dọc vẫn chưa biết then chốt hướng thượng, có con mắt trí này mới biện được tông đảng tà chánh. Người hiện giờ không hay thể hội, chỉ biết học ngôn ngữ, nghĩ đến những việc trong đãy da xưng là ta hội Thiền. Nó có thể thay ông việc sanh tử chăng ?

GIẢNG

Ngài Pháp Dung ở núi Ngưu Đầu cũng ngộ được nơi Tứ Tổ, nhưng Ngài thấy chưa phải tột, chưa phải người thấu đáo đến chỗ rốt ráo của lý thiền. Cho nên Ngài bảo người học thiền phải có con mắt trí tuệ, phân biệt rõ ràng đâu là tà, đâu là chánh, đâu là tột cùng, đâu là chưa tột cùng v.v… Ngài nói người thời nay tức thời Đường học ngôn ngữ, nghĩ đến những việc trong đãy da xưng là ta hội Thiền, chỉ biết lẩn quẩn trong thân này cho là hội thiền. Như vậy ai thay cho ông việc sanh tử ?

CHÁNH VĂN

Khinh thường bậc lão túc vào địa ngục nhanh như tên bắn. Tôi vừa thấy người vào đến cửa liền biết được ông rồi. Lại biết chăng  ? Cần kíp cố gắng, chớ có dung dị. Mặc y ăn uống mà để một đời luống qua, người trí chê cười.

GIẢNG

Lời này rất tha thiết. Ngài khuyên chúng ta đừng coi thường bậc lão túc, những bậc thầy trước kia có đạo đức, đã nhận được chánh pháp. Nếu mình có tâm khinh thường thì đọa địa ngục nhanh như tên bắn. Ngài tự nói: “Tôi vừa thấy người vào đến cửa liền biết được ông rồi”. Tôi thấy người tới cửa là biết rồi, khỏi cần bàn luận gì hết. Đây là điểm kỳ đặc của Ngài. Cho nên tổ Lâm Tế tới có thảo luận gì với Ngài đâu, hỏi liền đánh, không cần nói chi. Đó là thấy tới cửa liền biết.

Lại biết chăng ? Cần kíp cố gắng, chớ có dung dị”. Các ông phải nhanh chóng cố gắng, chớ có xem thường. “Mặc y ăn uống mà để một đời luống qua, người trí chê cười”. Chúng ta đắp y Phật, ăn chay, sống trong đạo mà tu không tiến được, để cho người trí chê cười, thật uổng một đời. Câu nhắc nhở này thắm thiết làm sao! Một đời bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ thân bằng quyến thuộc, bỏ tất cả việc nước, việc nhà để đi tu. Tâm cao thượng ấy quí báu vô cùng. Gan dạ bỏ hết những thứ thường tình, để tìm con đường siêu thoát, thế mà vào đạo rồi cũng lẩn quẩn trở lại như người tầm thường, có khi còn tệ hơn nữa, thì có đau không, có uổng một đời không ?

Chúng ta đi tu để làm gì mà bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết tất cả để rồi không làm ra trò trống chi ? Nếu tu không ra gì thì thôi về nuôi cha nuôi mẹ còn có ý nghĩa hơn, có giá trị hơn. Nếu can đảm dứt hết, vào chùa tu thì phải đạt tới cái gì, chớ không thể thả lỏng uổng đi một đời. Nhìn lại thấy rất thương nhiều người tu riết không biết mình tu ra sao nữa. Cứ khuya công phu, chiều Tịnh độ rồi chơi bình thường, chừng ấy việc và chờ tới già tới chết, thật uổng một đời.

Cho nên chúng ta không tu thì thôi, tu thì phải đến nơi đến chốn, cho xứng danh nghĩa người tu. Nên lời Ngài nhắc nhở rất là chí lý: Cần kíp cố gắng, chớ có dung dị. Mặc y ăn uống mà để một đời luống qua, người trí chê cười. Cho nên chúng ta phải tu làm sao cho có hiệu quả, xứng đáng một đời hy sinh của mình. Phải nhớ, phải biết rõ ràng như vậy, chớ đừng xem thường. Chúng ta xét lại lời người xưa tha thiết nhắc nhở mà ý thức được việc làm của mình, sao cho xứng đáng một ngày ở chùa là một ngày cao quí, một năm mặc y nhà Phật là một năm xứng đáng người tu, chớ đừng lôi thôi.

CHÁNH VĂN

Ông thời gian sau hẳn sẽ bị người tục lôi đi, phải tự xem xa gần cái gì là việc trên mặt. Nếu hội tức là hội, nếu không hội thì giải tán đi.

GIẢNG

Ngài nói cương quyết, hiểu được thì ở, nếu không hiểu thì rút lui, đừng ở đây nữa. Chúng ta thấy lối dạy của Ngài Hoàng Bá thật là mạnh mẽ.

CHÁNH VĂN

Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi:
- Thế nào là ý Tổ từ Ấn Độ sang ?
Ngài liền đập một gậy. Đến ba phen hỏi đều bị đập một gậy. Sau cùng Sư Lâm Tế từ giã Ngài đi nơi khác. Ngài dạy qua tham vấn Đại Ngu. Sau này Sư Lâm Tế đắc ngộ ý chỉ của Ngài. Chỗ chỉ dạy của Ngài đều nhắm vào bậc thượng căn, người trung căn và hạ căn khó thấy được yếu chỉ.

GIẢNG

Chúng ta thấy lối dạy của Ngài quá kỳ đặc. Hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, liền đập cho một gậy rồi đuổi xuống, không nói gì hết. Lần thứ hai hỏi lại đập cho một gậy nữa, đuổi xuống. Lần thứ ba hỏi cũng đập một gậy đuổi xuống. Như thế ai còn gan dạ nào ở đó mà tu. Chúng ta chỉ cần đập một gậy lần thứ nhất là xách gói đi tuốt, chớ đâu tới lần thứ hai thứ ba. Ngài Lâm Tế ráng ẩn nhẫn đến lần thứ ba bị đập một gậy nữa, ngài chỉ biết khóc, không còn cách gì khác. Ngài vừa khóc vừa dọn hành lý ra đi. Bấy giờ ngài Trần Tôn Túc làm Quản chúng bảo trước khi đi huynh lên từ giã Hòa thượng rồi hãy đi. Khi từ giã, Hòa thượng hỏi ông đi đâu. Ngài thưa “con không biết đi đâu nữa, thấy không có duyên ở đây thì con đi vậy thôi”. Tổ Hoàng Bá bảo ông qua Đại Ngu dạy cho. Ngài liền đi tới Thiền sư Đại Ngu.

Như vậy ngài Hoàng Bá có công hay có tội với Lâm Tế ? Ba lần hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, ba lần đánh rồi đuổi đi, chớ không dạy một câu. Sau cùng chỉ qua ngài Đại Ngu học. Qua tới Đại Ngu, ngài Đại Ngu hỏi:

- Ông từ đâu đến ?

- Dạ con từ Hoàng Bá đến.

Đại Ngu hỏi:

- Hoàng Bá đã dạy ông lời gì ?

- Ba lần con hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang đều bị ăn gậy, con không biết có lỗi hay không lỗi ?

Đại Ngu bảo:

- Hoàng Bá đã đem tâm lão bà chỉ cho ông đến chỗ tột cùng, ông còn thấy có lỗi, không lỗi.

Ngay đó, Ngài Lâm Tế lãnh hội được chỉ ý của Tổ Hoàng Bá dạy, liền nói “Phật pháp Hoàng Bá rất ít”. Chỉ đánh thôi, không nói chi nên rất ít. Ngài Đại Ngu biết Lâm Tế đã thấm, nên gạn lại:

- Con quỉ đái dưới sàng, hồi nãy nói có lỗi, không lỗi. Bây giờ thấy cái gì mà nói Phật pháp Hoàng Bá rất ít ?

Ngài thoi cho Đại Ngu một thoi vô hông. Đại Ngu xô ra nói:

- Thầy của ông là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì đến ta.

Ngài liền trở về Hoàng Bá.

Tổ Hoàng Bá đánh Lâm Tế ba gậy mà được làm thầy. Quí vị thấy hay ở chỗ nào ? Nhờ ăn ba gậy của Hoàng Bá mà dòng Lâm Tế truyền tới ngày nay, hơn một ngàn năm chưa dứt. Kỳ đặc ở chỗ nào ? Thời nay chúng ta không thể sử dụng thủ thuật của Ngài Hoàng Bá được. Bởi vì thời nay là thời khoa học, thời tôn trọng nhân quyền… đủ thứ hết. Đập người ta, người ta sẽ kiện mình. Cho nên thời này chỉ có cách ráng mà nói, nói tới khô cổ để cho người ta hiểu. Hiểu thì tốt, không hiểu thì thôi, chớ không dám đánh, sợ mang tội.

Như vậy thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang ? Chủ đích của Tổ Đạt Ma sang đây, mình làm sao giải thích được ? Mở miệng nói là đã mất ý của Tổ sư rồi. Tổ sư muốn chỉ mình cái chân thật, không có ngôn ngữ đối đãi. Nếu còn thấy có ngôn ngữ đối đãi, còn phải quấy, đúng sai thì không thấy được ý Tổ sư. Phải qua hết đối đãi mới thấy được ý Tổ sư. Vì vậy Ngài Đại Ngu phương tiện nói Hoàng Bá vì ông chỉ thẳng mà ông còn nói có lỗi không lỗi, tức là còn kẹt trong đối đãi. Đánh đó là chỉ thẳng rằng Tổ sư đem Thiền tông sang Trung Quốc, chỉ dạy chỗ không còn ngôn ngữ, không còn đối đãi. Bây giờ ông lại hỏi việc đối đãi, làm sao nhận ra được ý Tổ sư. Nghe đến đây ngài Lâm Tế hiểu ngay, liền nói Tổ sư dạy đơn giản quá. Ngài Đại Ngu nắm lại hỏi “hồi nãy ông nói có lỗi không lỗi, bây giờ lại nói Phật pháp Hoàng Bá rất ít là sao ?” Đến đây Lâm Tế thấy Phật pháp rất đơn giản mà còn nói là trật, nên chỉ thoi một thoi trả lời. Bị đánh ba gậy để chỉ, bây giờ muốn trình chỗ thấy của mình cũng dùng cái thoi để trình. Như vậy mới thấy rõ chỗ người đệ tử đã thấu triệt được ý của thầy.

Người thời nay đọc sử tới mấy đoạn này thấy Thiền sư ngày xưa quá thô bạo, chỉ có đánh đập chớ không nói đạo lý, nhưng thật tình hành động của các ngài có ý nghĩa rất thâm trầm. Bởi vậy nếu chúng ta không lãnh hội được lý thiền thì không bao giờ tìm thấy được cái hay của nhà thiền. Chủ ý của Tổ Hoàng Bá là chỉ thẳng, chớ không chỉ quanh co. Người nào Ngài mới chỉ thẳng như vậy ? Người có căn khí đại thừa, có thể thừa đương đại sự mới được chỉ thẳng như thế. Như cả quyển Uyển Lăng Lục, chúng ta đọc đâu thấy ngài đánh ai. Tướng quốc Bùi Hưu hỏi, Ngài trả lời đâu đó rõ ràng. Là vì tướng quốc mà bị đánh thì từ giã liền, cho nên phải giải cho ông hiểu. Còn Lâm Tế là một con người rất kỳ đặc, ít nói thâm trầm cho nên Tổ đã thầm nhận, nhưng chưa nói ra. Khi Lâm Tế hỏi Ngài liền dùng thủ thuật đó. Nhờ thủ thuật này, Lâm Tế sau khi ngộ rồi không còn ý niệm lăng xăng nữa. Vì vậy hệ Lâm Tế truyền bá rất lâu dài.

CHÁNH VĂN

Đời Đường khoảng niên hiệu Đại Trung (847 – 860 TL), Ngài tịch ở núi Hoàng Bá. Nhà vua sắc thụy là Đoạn Tế Thiền Sư, tháp hiệu Quảng Nghiệp.

GIẢNG

Do vậy có nơi gọi Ngài là Đoạn Tế Thiền sư, có nơi gọi Hoàng Bá hoặc Hy Vận. Chỗ nào đúng ? Chỗ nào cũng đúng hết. Ngài có bài kệ răn dạy những người tu Thiền rất hay:

                   Trần lao quýnh thoát sự phi thường,
                    Hệ bã thằng đầu tố nhất trường,
                    Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt,
                    Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.
Dịch:
                    Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,
                    Đầu dây nắm chặt giữ lập trường,
                    Chẳng phải một phen xương lạnh buốt,
                    Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.

Tất cả người tu chúng ta cốt ra khỏi trần lao, còn lăn lộn tử sanh là còn ở trong vòng trần lao. Lao là khổ là nhọc, muốn ra khỏi vòng khổ nhọc trầm luân là việc phi thường. Tại sao phi thường ? Bởi vì con người sanh ra, ai cũng theo thói thường, lớn lên học hành, rồi có gia đình, có con cái, lớn nữa có cháu chắc rồi tới già chết. Cứ đều đều như vậy mà không ai nghĩ cách nào khác hơn để thoát ra luật lệ ấy.

Người tu không chấp nhận sự trói buộc, sanh đi tử lại mãi mãi như thế. Cho nên chúng ta quyết định phải thoát ra vòng trần lao. Quyết định thoát khỏi vòng trần lao là kẻ thường hay phi thường ? Là phi thường. Vậy mà ai nói động một chút thì buồn, ai chê liền giận. Con người phi thường mà vậy sao ? Đã là người phi thường thì nghe chửi không thèm giận, nghe khen không mừng mới được. Quí vị thử kiểm lại xem mình phi thường chưa ? Đã đi tu là làm việc phi thường, tại sao chưa chịu thực hiện việc phi thường ?

Đó là những câu hỏi chúng ta phải luôn tự đặt, tự vấn để vươn lên, chớ không thể tu mà vẫn đặt mình trong cái tầm thường. Tất cả chúng sanh đều chấp nhận cuộc đời sanh ra, lớn lên, lập gia đình rồi tới già chết. Ai cũng như ai, giỏi lắm làm được chuyện từ thiện chút ít cho đời là quí rồi. Người trước như vậy, người sau như vậy, mãi mãi như vậy. Có người sớm thức tỉnh, muốn thoát ra khỏi cái tầm thường đó, vì vậy nên nói là phi thường. Không chấp nhận việc tầm thường thì phải làm việc khác hơn, làm việc phi thường. Muốn làm việc phi thường đòi hỏi con người cũng phải phi thường. Người ta đi đường bằng phẳng suông sẻ, mình muốn đi trên mây trên gió thì phải phi thường hơn người ta chớ, phải có cái gì kỳ đặc mới được.

Chúng ta đồng ý là người phi thường thì phải có tư cách phi thường. Tư cách phi thường thì bị chê không buồn, bị chọc không giận v.v… Chớ động tới giống hệt những người tầm thường, than tôi tu mấy năm nay mà không ai quan tâm, thiếu thốn, nghèo, bệnh hoạn hoài, buồn quá. Những thái độ đó đâu phải là người phi thường. Ở đây Ngài nói chúng ta muốn ra khỏi trần lao là việc phi thường, nên phải vượt khỏi thói thường tình của người đời. Như vậy mới xứng đáng là người xuất gia.

Hệ bã thằng đầu tố nhất trường tức là đầu dây nắm chặt giữ lập trường. Mình tu pháp nào thì cứ một pháp ấy bám chặt cho tới nơi tới chốn. Như câu chuyện trong kinh Phật dạy: Có một anh chàng phạm tội tử hình. Trên một con đường dài mấy cây số, mà hai bên đường nào là các cảnh ca hát, rượu chè, cờ bạc, đủ thứ trò cám dỗ. Nhà vua ra lệnh anh bưng một dĩa dầu đầy đi từ đầu đường đến cuối đường mà không rơi một giọt, không nghiêng không đổ thì sẽ tha anh khỏi tội tử hình. Nếu nghiêng đổ ở chỗ nào thì lập tức tên đao phủ phía sau chặt cổ anh liền. Quí vị nghĩ nếu trong trường hợp như vậy chúng ta dám liếc ngó hai bên đường không ? Chắc chắn là không. Vì biết tên đao phủ phía sau sẵn sàng buông đao, để chảy một chút dầu là bị rơi đầu ngay, cho nên chăm chăm đi tới cuối đường. Khi đi hết con đường mà không nhỏ một chút dầu, tên tử tội mới thoát khỏi tội tử hình.

Phật ví dụ dĩa dầu là pháp tu, còn tên tử tội là tất cả phàm phu chúng ta. Có người nào không bị án tử hình không ? Những án treo ba chục năm, năm chục năm, sáu bảy chục năm… rồi sẽ tử hình, ai cũng bị án hết. Đang bị án mà muốn thoát khỏi án phải làm sao ? Phật dạy phải dùng một pháp tu, chuyên tâm thực hành cho tới nơi tới chốn, không sơ sót thì sẽ giải thoát khỏi tửû hình. Tử hình là sanh tử. Muốn ra khỏi sanh tử thì phải nắm vững pháp tu của mình, từ đầu tới cuối, không vì duyên của sáu trần mà mình lơi lỏng, phải chăm chăm đi tới mới được giải thoát. Cũng như anh tử tội chăm chăm nhìn dĩa dầu, không cho nghiêng đổ vậy. Chúng ta tu ai cũng có hướng của mình, phải theo dõi luôn, không chút lơ là thì sẽ thoát khỏi sanh tử.

Chú lính cầm cây đao đi bên cạnh là quỷ vô thường chực sẵn, mình sơ sẩy một chút là nó chặt đầu liền. Chúng ta đi đứng, tới lui, qua lại… sơ sẩy đạp con rắn, nó cắn sôi đờm chết. Ra đường xe đụng ngã đùng chết. Quỷ vô thường nó chực lúc nào mình không hay, miễn sơ sẩy thì rồi đời. Vì vậy đi đâu cũng phải nhiếp tâm giữ chánh niệm, mới thoát chết. Thường mình đi ra thì ngó trời, ngó mây, ngó thiên hạ kẻ này người kia… về kể lại cho huynh đệ nghe. Cho nên không biết quỷ vô thường nó chụp lúc nào. Vì vậy người tu phải cố làm sao đi cho tới nơi tới chốn, đem hết tâm lực tập trung vào mỗi việc tu hành, khả dĩ thoát được luật sanh tử vô thường.

Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt tức là chẳng phải một phen xương lạnh buốt. Nhờ tới mùa đông xương lạnh buốt chúng ta mới thấy hoa mai nở rộ. Có chịu cái lạnh buốt của mùa đông, mới hưởng được mùi thơm của hoa mai. Đừng nghĩ mình tu thảnh thơi vui vẻ, sẽ đạt được kết quả mỹ mãn, không bao giờ có chuyện đó. Phải chăm chỉ, quyết tâm tu, không lúc nào lơi lỏng, mai kia mới có thể giải thoát sanh tử. Ngoài thế gian, một đứa học trò muốn mỗi năm mỗi lên lớp cho tới thi đậu, nó phải làm sao ? Phải cố gắng học đêm học ngày mới được. Chúng ta tu cũng vậy, phải chịu cực chịu khổ, để hết sức lực, hết tâm trí mình vào sự tu thì mai kia mới được kết quả tốt đẹp, không thể lơ là, đùa cợt ngày này tháng kia mà được kết quả.

Bài kệ này nhắc nhở chúng ta thấy bổn phận của mình phải làm gì, đạt được gì, chớ không phải chuyện làm cho có chừng, làm để mà làm, làm trò cười cho thiên hạ. Đó là lời nhắc nhở rất chí thiết của thiền sư Hoàng Bá. Mong tất cả nhớ và làm tròn bổn phận của mình.

---oOo---

 

 

 

 

Items: 7 - 7 of 7
<< 3 | 4 | 5 | 6 | 7